Hiển thị các bài đăng có nhãn vượt biển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vượt biển. Hiển thị tất cả bài đăng

(Kênh 13) – Khi mùa hoa mận nở trắng núi rừng cũng là mùa các chàng trai miền biên viễn Kỳ Sơn, Nghệ An vượt biên sang Lào “bắt” vợ. Những cuộc tình xuyên biên giới này mang đầy màu sắc lãng mạn, song nó cũng mang nhiều uẩn khúc và kéo theo nhiều hệ lụy.


Những cuộc tình không biên giới


Ngồi trên “con ngựa sắt” Minsk nổ đoành đoạch, chúng tôi được anh bạn người bản địa Học Phò Hiêu chở đi xem các bản “vợ Lào” ở xã Mường Típ, huyện Kỳ Sơn. Hiêu cho biết, các bản làng nơi đây con trai vượt biên lấy vợ Lào nhiều lắm. Riêng bản Ta Đo, Xốp Típ, Vang Pao có hàng chục cặp.


Một người vợ Lào ở bản Ta Đo.

Một người vợ Lào ở bản Ta Đo.


Túp lều lợp fibro xi măng thấp tè, nằm bên con suối nhỏ ở bản Ta Đo là nơi sinh sống của cặp vợ chồng Mong Thị May (SN 1988, người Lào) và Học Phò Tuy (SN 1983). Bên chén rượu ngô mời khách, Tuy kể rằng lần đầu tiên anh theo trai bản trèo cổng trời, vượt dòng sông Nậm Mộ sang đất Lào “bắt” vợ thì đã bị ánh mắt của thiếu nữ Moong Thị May hút hồn. Vậy là cứ vài ngày, bất kể trời mưa hay nắng anh lại vượt biên sang đất Lào để đến với người trong mộng, nhưng xem ra trái tim người đẹp chẳng hề lung lay. Buồn tình, Tuy mang khèn ra bờ sông thổi ròng rã gần 1 tháng trời. Vào một đêm trăng, hình như không chịu đựng được tiếng khèn gọi tình, nàng May đã bơi qua sông tìm đến. Vậy là 2 người nên vợ nên chồng.


Hỏi Tuy sang bên kia bắt vợ, trai Lào có làm khó dễ không, Tuy cười: Họ thoải mái lắm, con gái như con nai con hoẵng trong rừng, ai bẫy được người đó dùng thôi.


Ranh giới tự nhiên giữa xã Mường Típ và nước CHDCND Lào chỉ là con sông Nậm Mộ cùng mấy quả núi. Hầu hết cư dân sống ở hai triền biên giới tuy khác quốc tịch nhưng lại chung gốc gác người Khơ Mú. Thế nên, chuyện lấy vợ người Lào vốn không xa lạ với các chàng trai nơi đây. Có những người nhiều tuổi vẫn vượt sông đi bắt vợ Lào như trường hợp của Học Phò Thiệu. Hiện mắt ông Thiệu đã mù lòa nhưng ông vẫn luôn tự hào là lấy được cô vợ Lào trẻ đẹp Lô Thị Bằng ít hơn ông đến 30 tuổi.


Ông Lương Xuân Liễu-Trưởng bản Ta Đo chậc lưỡi khi nói đến chuyện này: “Lấy vợ Lào nơi đây là chuyện bình thường ấy mà. Mấy bữa nay lại có mấy cậu choai choai rủ nhau vượt sông đi “bắt” vợ Lào rồi. Riêng bản ta mấy năm trở lại nay cũng có hơn chục người lấy vợ Lào.


Và những hệ lụy


Những cuộc tình không biên giới này mang đầy màu sắc lãng mạn, song nó cũng kéo theo nhiều hệ lụy. Hầu hết các cặp vợ chồng Lào – Việt ở xã Mường Típ cưới nhau nhưng không hề đăng ký kết hôn. Khi được hỏi tại sao không đến UBND xã làm thủ tục kết hôn, họ đều có chung câu trả lời rằng: “Hai bên gia đình cho làm lễ cưới là thành vợ thành chồng rồi, cần chi phải đi đăng ký kết hôn”.


Ông Hoàng Văn Hiếu – Trưởng phòng Tư pháp huyện Kỳ Sơn cho biết: Hiện UBND huyện Kỳ Sơn đang chỉ đạo các xã biên giới tuyên truyền vận động người dân phải làm thủ tục kết hôn trước khi cưới để đảm bảo quyền lợi công dân.


Chính vì nhận thức lệch lạc như vậy nên những gia đình Việt – Lào này phải chịu nhiều thiệt thòi về quyền lợi công dân. Không phải cuộc hôn nhân nào cũng yên ấm. Có những người vợ Lào khi về làm dâu Việt đã đồng cam cộng khổ, sinh con đẻ cái, xây dựng gia đình khá giả; nhưng cũng có nhiều người vợ Lào bị chồng bạo hành phải ngậm đắng, nuốt cay ôm con về nhà mẹ đẻ. Thậm chí có những chị, chồng lấy vợ hai mà chẳng làm được gì. Hệ lụy nhãn tiền là chính quyền địa phương rất khó can thiệp, giải quyết mâu thuẫn trong các “gia đình không biên giới” này.


Không chỉ vậy, những đứa trẻ được sinh ra bởi các cặp vợ chồng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vẫn là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi. Không ít trẻ đến tuổi đi học vẫn chưa có giấy khai sinh.


Trao đổi với phóng viên về vấn đề này, ông Học Phò Dậu – Bí thư Đảng ủy xã Mường Típ, cho biết: Cán bộ xã đã nhiều lần đến tận nhà, tuyên truyền động viên những cặp vợ chồng Việt- Lào ra UBND xã đăng ký kết hôn nhưng họ không chịu đi. Họ cứ viện lý do ốm hay đang bận sang Lào làm ăn, nên xã cũng rất khó bắt buộc”.


Hoài An – Lê Hà



Vượt biên “bắt” vợ Lào

(Kênh 13) – Là người duy nhất của Việt Nam vượt đại dương bằng bè mảng, đến nay đã hơn 20 năm trôi qua, song ông Lường Viết Lợi (55 tuổi) quê Sầm Sơn (Thanh Hóa) vẫn còn nhớ mãi về ký ức đó.


110 ngày vượt đại dương


Đến nay ông Lợi đã ở cái tuổi cuối chiều, song ông vẫn còn nhớ mãi kỷ niệm của thời trai trẻ dám để cả vợ và 3 đứa con thơ ở nhà để cả gan vượt đại dương bằng bè mảng với nhóm người ngoại quốc.


Gặp chúng tôi ông Lợi vui lắm, ông vui vì từ cái ngày ông vượt đại dương bằng bè mảng (năm 1993) đến nay đã 20 năm trôi qua ông mới được kể lại câu chuyện thừa sống thiếu chết 110 ngày lênh đênh trên biển.


Ông Lợi đang kể lại cuộc hành trình vượt đại dương bằng bè mảng của mình.

Ông Lợi đang kể lại cuộc hành trình vượt đại dương bằng bè mảng của mình.


Rót chén nước chè mời khách, ông Lợi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện vượt đại dương của mình.


Vào năm 1993, ngày ấy gia đình ông Lợi nghèo lắm. Nghề chính của ông là làm mộc, song những ngày rảnh rỗi ông lại theo bố đi biển. Một hôm có một người ngoại quốc có tên Tim Xeevorin người Ailen là một nhà hằng hải mà cũng là nhà văn nổi tiếng đến Việt Nam đề cập vấn đề với ông được làm bè mảng để vượt đại dương.


Khi nghe xong câu chuyện, bản thân ông Lợi cho rằng người ngoại quốc kia “điên rồ”, bởi ông nghĩ chẳng có cái bè thô sơ nào mà lại vượt được đại dương như vậy, lại rất mạo hiểm có thể bỏ mạng bất cứ lúc nào ở biển khơi.


Ban đầu ông Lợi nghe xong cũng chùn bước, nhưng Tim nói  di chỉ văn hóa ở châu Mỹ gần giống với di chỉ văn hóa Đông Sơn, Tim cho rằng từ lục địa xa xôi người ta đã vượt đại dương bằng chiếc bè thô sơ để giao lưu kinh tế, văn hóa, ông muốn dùng thực nghiệm để trả lời cho câu hỏi đó.


Vậy là ông Lợi nhận lời làm bè mảng cùng Tim để vượt đại dương. Ông kể, ngày đó ông và hàng chục bà con cùng gia đình tham gia đóng bè. Chiếc bè đầu tiên đóng nhỏ, ghép bằng 50 cây luồng để đem thử thách trong sóng gió biển cả. Chiếc này ông Lợi được giao phụ trách phần mộc và kiểm tra, đôn đốc.


Hình ảnh chiếc bè mảng vượt Thái Bình Dương.

Hình ảnh chiếc bè mảng vượt Thái Bình Dương.


“Ngay từ chiếc thứ nhất tôi đã rất hứng thú về hành trình vượt đại dương bằng bè mảng của Tim nên tôi nêu nguyện vọng được đi cùng đoàn thám hiểm và được chấp nhận” – ông Lợi mừng vui nhớ lại thời khắc đó.


Sau khi đã thử thách chiếc bè đầu tiên, Tim bắt tay vào làm bè lớn chiều dài 20 mét, rộng 6 mét, cao gần 1 mét được ghép 4 lớp (mỗi lớp luồng, mỗi gỗ) tổng cộng 500 cây luồng.


Đến ngày 16/3/1993, chiếc bè làm xong, ông Lợi được giao nhiệm vụ đưa chiếc bè ra Hòn Gai (Quảng Ninh). Bè được chiếc tàu hải quân kéo đi mất hai ngày, ở đó bè được lắp buồm. Sau 10 ngày buồm làm xong, bè được cẩu lên một chiếc thuyền của Việt Nam chở sang Hồng Kông, tại đây chuẩn bị đầy đủ hành lí để lên đường.


Đối mặt với tử thần


Ngày 17/5/1993, chiếc bè mảng mang quốc kỳ Ailen và Việt Nam bắt đầu vượt chặng đường đầu tiên Hồng Kông – Đài Loan, ông Tim làm trưởng đoàn, ông Rô bác sĩ người Anh, ông Giép Phi, ông Mác là người Hồng Kông cùng đi.


“Chặng đường này đoàn gặp 4 trận bão. Một trận lớn khiến cột buồm bị gẫy, 5 người vật lộn mãi mới có thể khắc phục được. Khi đến Đài Loan mọi người đã lên cảng hết, chỉ còn duy nhất tôi không được lên bờ.


Họ cho rằng tôi là người vượt biên trái phép, lúc này mấy người Tây đấu tranh cho tôi, họ còn bảo đây là bè của người Việt Nam làm nên phải có người Việt đi cùng để sửa chữa nên tôi mới được lên bờ”, ông Lợi nhớ mãi.


Tại Đài Loan, NiNa (người Nhật) đã lên bè đi cùng đoàn. Ngày 5/8, bè bắt đầu cuộc hành trình vượt đại dương đi Mỹ. Dự định chuyến đi 100 ngày nhưng phải mất 110 ngày mới tới nơi. Trên đường đi, NiNa ở lại Nhật Bản.


(Ảnh tư liệu do ông Lợi cung cấp).

(Ảnh tư liệu do ông Lợi cung cấp).


Chặng đường này ông Lợi bị đau ngực, ông Tim bị cánh buồm đập vào người gẫy cả hai xương sườn phải nằm liệt suốt một tuần trời.


“Việc ăn ngủ, sinh hoạt trên bè chúng tôi có thực đơn hằng ngày, phân công nhau nấu cơm và rửa bát, rất bình đẳng, còn ban đêm thì thay ca nhau trực, cứ ngủ 2 giờ thì thức 4 giờ, lúc nào cũng có 2 người thức trực”, ông Lợi kể.


Ông Lợi kể tiếp, trong chuyến vượt đại dương này đoàn của ông liên tục bị hỏng bè, có những lúc đứt nối làm ông phải ngâm mình dưới nước cả ngày để buộc lại lạt. Sóng to, mưa lớn liên tục đe dọa đến tính mạng.


“Tôi còn nhớ như in hai lần cả đoàn thoát chết, đó là lần trời tối bè đi không có đèn báo hiệu suýt nữa bị tàu trọng tải lớn đâm vào. Tôi phải đánh lái hết cỡ mới lách được, khi tàu lớn đến nơi thì đã sát mạn bè.


Cú thứ hai là gặp nhóm cướp biển, bọn chúng leo lên bè, nhưng do trên bè không có của cải gì nên chúng tha cho, không thì cũng bỏ mạng rồi”, ông Lợi kể.


Đến ngày 29/9, bè đến hải phận Mỹ. Bè đi gần đến đất liền thì gặp gió đông, suốt 10 ngày bè bị đi giật lùi, khi còn cách đất liền khoảng 1000 dặm thì bè không thể tiến thêm chút nào nữa, tàu Mỹ phải ra đón vào đất liền.


Ngày 25/11/1993, đoàn thám hiểm đã đi tàu Nhật về Tokyo, sau đó các thành viên về nước mình. Còn ông Lợi trở về Hồng Kông sau đó bay về sân bay Nội Bài sau 6 tháng hành trình tính điểm xuất phát từ Hồng Kông.


Bà Đàm Thị Thái, Phó phòng Văn hóa – Thông tin, TX Sầm Sơn cho biết, tỉnh Thanh Hóa đã đồng ý cho phục dựng lại bè mảng để giới thiệu khi du khách đến du lịch Sầm Sơn như một nét văn hóa truyền thống của địa phương.


Ông Lợi cũng chia sẻ, ông sẵn sàng phục dựng lại bè mảng khi TX Sầm Sơn và tỉnh Thanh Hóa đồng ý.


Phạm Hương



Gặp người Việt vượt đại dương bằng bè mảng