Hiển thị các bài đăng có nhãn Ấn Độ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ấn Độ. Hiển thị tất cả bài đăng

Bài dịch của Trang La.

Bài viết cùng tác giả:


NEW DELHI – Tháng này đánh dấu kỷ niệm 50 năm quân đội Trung Hoa tấn công Ấn Độ, cuộc chiến tranh duy nhất mà đất nước dưới chế độ cộng sản Trung Hoa giành thắng lợi. Mặc dù cuộc chiến thất bại trong việc giải quyết các tranh chấp giữa hai quốc gia đông dân nhất thế giới, và di sản của nó vẫn tiếp tục đè nặng mối quan hệ song phương giữa hai nước. Trong khi sức mạnh kinh tế của họ đang thu hút sự chú ý của quốc tế ngày càng tăng, thì sự cạnh tranh chiến lược cơ bản của họ về các vấn đề khác nhau từ đất đai và tài nguyên nước tới ảnh hưởng chính trị tại các khu vực khác lại ít thu hút sự chú ý hơn.


Tầm quan trọng quốc tế của mối quan hệ Trung - Ấn phản ánh thực tế là họ cùng chiếm 37% dân số toàn cầu. Mặc dù họ đại diện cho những nền văn hóa khác nhau rõ rệt và các mô hình phát triển cạnh tranh nhau, họ chia sẻ một sự tương đồng lịch sử giúp định hình ngoại giao của hai nước: mỗi bên đều tự giải phóng khỏi các cường quốc thực dân trong cùng một khoảng thời gian.

Trong suốt lịch sử của họ, các nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ được ngăn cách bởi cao nguyên Tây Tạng rộng lớn, dẫn đến hạn chế tương tác về văn hóa và tôn giáo cũng như không có quan hệ chính trị. Chỉ sau cuộc thôn tính Tây Tạng của Trung Hoa năm 1950 – 1951, quân đội Trung Hoa lần đầu tiên xuất hiện trên biên giới Hy Mã Lạp Sơn của Ấn Độ.

Hơn một thập kỷ sau đó, Trung Hoa gây bất ngờ cho quân đội thiếu sự chuẩn bị của Ấn Độ bằng việc tiến hành một cuộc tấn công từ nhiều hướng qua dãy Hy Mã Lạp Sơn vào ngày 20 tháng Mười năm 1962. Thủ tướng Trung Hoa Chu Ân Lai công khai nói rằng cuộc chiến này nhằm mục đích “dạy cho Ấn Độ một bài học”.

Tấn công kẻ thù một cách bất ngờ mang lại một lợi thế chiến thuật đáng kể trong chiến tranh, và cuộc xâm lược đã gây ra một cú sốc tâm lý và chính trị to lớn cho Ấn Độ, làm phóng đại những tiến bộ quân sự đầu tiên mà Trung Hoa đã đạt được. Cuộc chiến chớp nhoáng của Trung Hoa tạo ra tư tưởng chủ bại ở Ấn, buộc quân đội Ấn phải rút vào thế phòng thủ. Ấn Độ, lo sợ những hậu quả chưa xác định, thậm chí còn tránh sử dụng sức mạnh không quân của mình, mặc dù quân đội Trung Hoa thiếu vắng lực lượng phòng không hiệu quả trong cuộc tấn công của mình.

Sau hơn một tháng chiến đấu, Trung Hoa tuyên bố ngừng bắn đơn phương trong thế thượng phong, khi đã nắm được một số lãnh thổ Ấn Độ. Trung Hoa đồng thời thông báo rằng họ có thể bắt đầu rút các lực lượng của mình từ ngày 1 tháng 12 năm 1962, bỏ trống lãnh thổ họ giành được ở khu vực phía Đông (nơi có biên giới của Ấn, Myanmar, Tây Tạng và Bhutan) nhưng ở lại các khu vực bị chiếm ở phía Tây (bang thủ phủ Jammu và Kashmir). Các giới hạn rút lui này khớp với các mục tiêu trước chiến tranh của Trung Hoa.

Giống như Mao Trạch Đông bắt đầu cuộc xâm lược Tây Tạng khi thế giới đang bận rộn với cuộc chiến Triều Tiên, ông ta đã chọn thời điểm hoàn hảo để xâm lược Ấn Độ, theo chiến lược gia cổ đại Tôn Tử. Cuộc tấn công xảy ra đồng thời với cuộc khủng hoảng quốc tế nghiêm trọng đã đưa Hoa Kỳ và Liên Xô vào cuộc chiến tranh hạt nhân qua việc triển khai tên lửa tàng hình của Liên Xô ở Cuba. Việc ngừng bắn đơn phương của Trung Hoa trùng với thời điểm Mỹ chính thức chấm dứt phong tỏa hải quân Cuba, đánh dấu sự kết thúc khủng hoảng tên lửa.

Việc (lựa chọn) thời điểm khôn ngoan của Mao đảm bảo sự cô lập Ấn Độ khỏi các nguồn hỗ trợ quốc tế. Trong suốt cuộc xâm lược, sự chú ý quốc tế tập trung vào cuộc thách thức hạt nhân Hoa Kỳ - Xô Viết, chứ không phải là cuộc chiến đẫm máu bùng lên dưới chân dãy núi Hy Mã Lạp Sơn.

Sự thất bại nhục nhã của Ấn dẫn đến sự ra đi nhanh chóng của Thủ tướng Ấn, Jawaharlal Nehru; nhưng nó cũng khởi đầu cho việc hiện đại hóa quân đội và gia tăng chính trị.

Năm mươi năm sau, căng thẳng giữa Ấn Độ và Trung Hoa gia tăng trở lại trong bối cảnh cạnh tranh chính trị căng thẳng. Toàn bộ biên giới 4,057 km của họ - một trong những đường biên dài nhất thế giới – vẫn còn trong tình trạng tranh chấp, mà không có một đường biên xác định rõ ràng sự kiểm soát trên dãy Hy Mã Lạp Sơn.

Tình trạng này đã kéo dài mặc cho các cuộc đàm phán Trung - Ấn thường xuyên kể từ 1981. Thực tế, những cuộc đàm phán này là quá trình đàm phán lâu dài nhất và vô ích nhất giữa bất kỳ hai quốc gia nào trong lịch sử hiện đại. Trong một chuyến viếng thăm New Delhi năm 2010, Thủ tướng Trung Hoa Ôn Gia Bảo tuyên bố thẳng thừng rằng dàn xếp các tranh chấp biên giới “sẽ mất một giai đoạn lâu dài”. Nếu vậy, Trung Hoa (hay Ấn Độ) có được gì khi tiếp tục các cuộc đàm phán?

Khi vết thương cũ chưa nguôi, những vấn đề mới đã bắt đầu khuấy đục mối quan hệ song phương. Ví dụ, năm 2006, Trung Hoa đã khởi xướng một vụ tranh chấp lãnh thổ mới qua việc tuyên bố chủ quyền khu vực phía Đông (bang Arunachal Pradesh với diện tích xấp xỉ nước Áo), nơi mà lực lượng Trung Hoa đã rút lui năm 1962, mô tả nó như là “miền Nam Tây Tạng”.

Lập trường cứng rắn rõ rệt của Trung Hoa đối với Ấn Độ kể từ đó cũng được thể hiện trong các diễn biến/triển khai khác, bao gồm các dự án chiến lược của Trung Hoa và sự hiện diện quân sự của quốc gia này tại vùng kiểm soát của người Pakistan ở Kashmir, một vùng biên giáp ranh giữa Ấn Độ, Trung Hoa và Pakistan.

Các viên chức quốc phòng Ấn Độ đã báo cáo về sự gia tăng xâm nhập quân sự của quân đội Trung Hoa trong những năm gần đây. Đáp lại, Ấn Độ đã tăng cường triển khai quân sự dọc theo đường biên giới để ngăn chặn bất kỳ (hành vi) lấn đất nào của Trung Hoa. Ấn Độ cũng triển khai kế hoạch khẩn cấp (“crash program”) để cải thiện khả năng hậu cần bằng cách xây dựng đường sá, đường băng mới và các trạm hạ cánh hiện đại dọc theo dãy Himalaya.

Sự cạnh tranh chiến lược lớn hơn giữa chế độ chuyên chế lớn nhất thế giới và nền dân chủ lớn nhất thế giới cũng rõ nét hơn, mặc cho thương mại (giữa hai bên) tăng nhanh chóng. Trong thập kỷ vừa qua, thương mại song phương đã tăng hơn 20 lần, lên tới 73.9 tỷ đô la Mỹ , khiến nó trở thành khu vực duy nhất mà quan hệ song phương phát triển mạnh.

Vẫn quá xa vời để có thể cải thiện những tranh chấp cũ, quan hệ thương mại này đi kèm với sự cạnh tranh địa lý – chính trị và căng thẳng quân sự Trung - Ấn lớn hơn . Sự bùng nổ thương mại song phương không đảm bảo cho sự ôn hòa giữa hai quốc gia này.

Mặc dù Trung Hoa muốn dạy cho Ấn Độ “một bài học”, cuộc chiến 1962 đã thất bại trong việc đạt được bất kỳ mục tiêu chính trị lâu dài nào và chỉ làm cay đắng mối quan hệ song phương. Bài học tương tự được áp dụng cho bối cảnh Trung – Việt: năm 1979, Trung Hoa nhân rộng mô hình 1962 bằng việc tiến hành một cuộc chiến chớp nhoáng bất ngờ vào Việt Nam, cuộc chiến mà lãnh đạo Trung Hoa Đặng Tiểu Bình đã thừa nhận rằng (nó) được thiết kế để “dạy (cho Việt Nam) một bài học”. Sau 29 ngày, Trung Hoa kết thục cuộc xâm lược của nó, tuyên bố rằng Việt Nam đã bị trừng phạt đủ. Nhưng bài học mà Đặng có lẽ phải nhận ra từ kết quả yếu kém của Quân đội nhân dân Trung Hoa trong cuộc chiến với Việt Nam đó là Trung Hoa, cũng như Ấn Độ, cần hiện đại hóa mọi khía cạnh/vấn đề xã hội.

@Project Syndicate 2012

Asia Clinic – 15h31’ ngày thứ Năm, 25/10/2012

Bài dịch của Trang La

Bài viết gốc: India’s American Relations

Bài viết của Shashi Tharoor, Cựu Bộ trưởng Ngoại giao của Ấn Độ và là một trong 5 ứng viên Tổng thư ký Liên hợp quốc sau khi ông Kofi Annan hết nhiệm kỳ, hiện là thành viên Quốc hội Ấn Độ. Cuốn sách mới nhất của ông, Hòa Bình kiểu Ấn Độ: Ấn Độ và thế giới của thế kỷ 21(Pax Indica: India and the World of the 21st Century), vừa được xuất bản.

NEW DELHI – Với cuộc bầu cử tổng thống của nước Mỹ hiện ra lờ mờ, có lẽ khía cạnh rõ ràng nhất trong quan điểm của Ấn Độ đó là không ai ở New Delhi thực sự để tâm đến kết quả. Có một sự đồng thuận rộng rãi trong giới hoạch định chính sách ở Ấn Độ rằng, bất kể ai chiến thắng, mối quan hệ Ấn Độ - Hoa Kỳ đều ít nhiều vẫn đi đúng hướng.

Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa đều có trách nhiệm đối với diễn biến này. Chuyến thăm Ấn Độ thành công của Tổng thống Barack Obama năm 2010, và bài phát biểu lịch sử của ông trong một phiên họp toàn quốc hội, đã giới hạn những sự kiện quan trọng nhất gần đây trong mối quan hệ song phương. Đây là một trong rất nhiều những cuộc gặp gỡ giữa Obama và Thủ tướng Manmohan Singh trong các diễn đàn khác nhau kể từ khi nhậm chức, thường là các hội nghị thượng đỉnh đa phương như G-20, và nó củng cố mối quan hệ mới nổi lên từ một thập kỷ thay đổi mạnh mẽ.

Trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh, nền dân chủ lâu đời và lớn nhất của thế giới thực chất đã trở nên ghẻ lạnh. Sự thờ ơ ban đầu của Mỹ được thể hiện rõ ràng nhất trong phản ứng của Tổng thống Harry Truman khi Chester Bowles - một nhà chính trị và ngoại giao theo đảng dân chủ tự do ở bang Connecticut của Hoa Kỳ(ND) - hỏi ông về việc bổ nhiệm làm đại sứ Ấn Độ. “Tôi nghĩ rằng Ấn Độ đang chật ních với những người nghèo và những con bò ở quanh đường phố, các bác sỹ phù thủy và những người ngồi trên than nóng, tắm trên sông Hằng… nhưng tôi không nhận thấy bất cứ ai nghĩ rằng điều đó là quan trọng”.

Nếu điều đó là xấu, thì định hướng chính trị của Ấn Độ còn xấu hơn. Sự ưu tiên của Mỹ đối với việc tạo ra các đồng minh chống cộng, dù không tốt đẹp gì, đã gắn kết Washington với chế độ độc tài Hồi giáo đang lên của Pakistan, trong khi nền dân chủ không liên kết của Ấn Độ trôi theo đường lối của Liên Xô già cỗi. Chính quyền Hoa Kỳ không ủng hộ phong trào không liên kết; thư ký liên bang của Eisenhower, ông John Foster Dulles, có một tuyên bố nổi tiếng rằng “trung lập giữa thiện và ác thực ra chính là ác”. 

Trong một thế giới bị phân chia giữa hai siêu cường không nhân nhượng, sự lừng khừng của Ấn Độ có vẻ như là cách xoa dịu tốt nhất đồng thời là sự hỗ trợ và an ủi tồi tệ nhất đối với kẻ thù.

Mặt khác, Pakistan trở thành một phần thiết yếu trong chiến lược của Mỹ nhằm ngăn chặn Liên Xô và sau này là sự mở cửa cho Trung Quốc. Từ quan điểm của Ấn Độ, sự ‘nuông chiều’ của Mỹ với Pakistan đã trở thành sự thù địch công khai khi Hoa Kỳ gửi Hạm đội Bảy (Seventh Fleet) tới vịnh Bengal nhằm hỗ trợ nạn diệt chủng của Pakistan tại Bangladesh năm 1971. Sự căng thẳng đã trở nên dịu lại đúng lúc, nhưng Ấn Độ vẫn luôn được coi là nghiêng về phía điện Kremlin, rất khó để có thể đề xuất mối quan hệ hữu hảo trong con mắt của người Mỹ.

Với sự kết thúc thời kỳ Chiến tranh lạnh, và sự định hướng lại mục tiêu của Ấn Độ đối với chính sách ngoại giao, cũng với sự gia tăng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu của nó, đã làm tan băng. Tuy nhiên, một với vụ thử hạt nhân của Ấn vào năm 1998, lại làm khơi mào cho các biện pháp trừng phạt mới của Hoa Kỳ.

Tổng thống Bill Clinton đã bắt đầu làm thay đổi mọi thứ với một chuyến thăm Ấn Độ thành công rực rỡ vào năm 2000, năm cuối cùng tại vị của ông. Chính quyền của G.W.Bush đã đưa các vấn đề tiến xa hơn nữa, với một Thỏa thuận quốc phòng năm 2005 và một Hiệp định trọng yếu về hợp tác hạt nhân dân sự năm 2008 (thứ mà vẫn là tâm điểm của mối quan hệ chuyển biến).

Hiệp định hạt nhân đồng thời thực hiện hai điều. Nó thừa nhận Ấn Độ vào câu lạc bộ hạt nhân toàn câu, mặc cho sự từ chối ký kết Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân. Quan trọng hơn, nó thừa nhận rằng đây là trường hợp ngoại lệ mà Hoa Kỳ đã tìm được người anh em. Nhờ có Hoa Kỳ, dùng sức mạnh vũ trang đối với 45 quốc gia thuộc Tập đoàn Cung cấp hạt nhân buộc họ ngậm đắng nuốt cay với mối quan ngại rằng sự đối xử đặc biết với Ấn Độ có thể tạo thành một tiền lệ cho các quốc gia có tham vọng xỏ lá về hạt nhân như Pakistan, Bắc Hàn, và Iran, bởi hiện giờ đã có một “Ấn Độ ngoại lệ”.

Dưới thời Obama, không có đột phá nào là khả thi: không có bước đột phá ngoạn mục nào được hình thành hoặc thực thi và cũng không có những gì mà nhiều người đã tưởng tượng. Nhưng Obama - người đã cho trưng bày một bức ảnh của Mahatma Gandhi trong văn phòng Thượng viện của ông, mang một khung hình vị thánh Hindu Hanuman, và thường nói về mong muốn xây dựng một “mối quan hệ chiến lược thân thiết” với Ấn Độ - đã tạo ra những ấn tượng làm vừa lòng New Delhi và làm mềm lòng quốc hội cứng rắn.

Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn (nếu bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ). Xuất khẩu của Mỹ tới Ấn Độ đã tăng trưởng nhanh hơn trong vòng 5 năm qua so với xuất khẩu tới bất cứ quốc gia nào. Liên đoàn Công nghiệp Ấn Độ ước tính rằng, mặc cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây và sự suy thoái kinh tế Hoa Kỳ đã gây ra nó, thương mại song phương trong lĩnh vực dịch vụ có thể tăng trưởng từ 60 tỷ đô tới hơn 150 tỷ đô trong vòng sáu năm tới.

Trong suốt thời kỳ của Obama, đã có tiến bộ trên những mặt khác - những bước nhỏ nhưng quan trọng để làm tăng sức mạnh cốt lõi của mối quan hệ. Các thỏa thuận về các vấn đề có vẻ bình thường như nông nghiệp, giáo dục, sức khỏe và thậm chí là thăm dò không gian và an ninh năng lượng là chứng thực tăng cường sự hợp tác. Hai chính phủ cũng đã công bố các sáng kiến về năng lượng sạch và biến đổi khí hậu. Giao dịch thương mại và đầu tư đáng kể, cũng như mối liên kết ngày càng tăng giữa các trường đại học Mỹ và Ấn Độ, đã khẳng định rằng mỗi quốc gia đang phát triển mối quan hệ sâu sắc hơn với bên còn lại hơn bất cứ lúc nào.

Kết quả là, người Ấn sẽ theo dõi diễn tiến cuộc bầu cử của Hoa Kỳ, cũng như tất cả mọi người, với mối quan tâm nhiều hơn so với trước kia. Nhưng, không giống như phần lớn phần còn lại của thế giới, họ sẽ cảm thấy rất ít băn khoăn về kết quả.

@Project Syndicate 2012

BS Hồ Hải hiệu đính - Asia Clinic - 18h06'  ngày thứ Sáu, 17/8/2012

Bài dịch của Nguyễn Ngọc Khánh
Bài viết cùng tác giả:

Bài viết liên quan:


Bài viết của ông Brahma Chellaney, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Trung tâm nghiên cứu chính sách có trụ sở tại New Delhi, là tác giả của cuốn sách Sự hy sinh mù quáng của châu Á và Nguồn nước trong tương lai: Cuộc chiến mới của châu Á(Asian Juggernaut: [xem ghi chú ở bài: Những bất ổn sắc tộc Trung Hoa] and the forthcoming Water: Asia’s New Battlefield)

NEW DELHI – Hoa Kỳ gần đây đã cất đi cái gánh nặng trên vai người Ấn mang tên gọi lệnh trừng phạt Ba Tư(Iran): với việc cho phép Ấn Độ được miễn trừ khỏi các lệnh trừng phạt về tài chính liên quan đến Ba Tư đổi lấy việc Ấn độ cắt giảm đáng kể lượng dầu hỏa mua từ Ba Tư. Mặc dù vậy, Ba Tư tiếp tục phá hỏng (cast a pall over=spoil) mối quan hệ bang giao khác đang tươi sáng dần giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ.

Đứng trên quan điểm của Ấn Độ, Ba Tư là một quốc gia láng giềng quan trọng mà Ấn Độ khó có thể cắt đứt mối quan hệ bang giao giữa hai nước. Thực vậy, Ấn độ dường như về phương diện địa lý đã bị khóa trái trong một vòng cung của những quốc gia đang trong tình trạng suy yếu hay bất ổn, điều này làm cho đất nước Ấn Độ phải đương đầu với các mối đe dọa bên ngoài gần như bủa vây từ mọi hướng.

Nếu như Ấn Độ tham gia vào chiến lược kiềm chế nhằm chống lại Ba Tư của Hoa Kỳ, quốc gia này sẽ phải chịu những cái giá phải trả mang tính chiến lược quá đắt. Trước hết, Ấn Độ sẽ mất đi lối vào A Phú Hãn(Afghanistan) thông qua Ba Tư, quốc gia đã đóng vai trò như một trạm trung chuyển dòng vốn viện trợ đáng kể từ Ấn Độ sang thủ đô Kabul của A Phú Hãn. Hơn nữa, việc kiềm chế sẽ làm tổn hại đến những lợi ích về năng lượng của Ấn Độ.

 Vì Hồi Quốc(Pakistan) là một lãnh thổ cũ của Ấn Độ bị người Anh chia cắt để trao trả độc lập. Nên Pakistan trở thành thù địch của Ấn Độ sau chiến tranh thế giới II. Từ đó biên giới Ấn và Ba Tư (Iran) bị tách xa. Ấn Độ muốn đến Iran lại không thể đi qua mãnh đất cũ của mình là Pakistan, mà phải đi qua vịnh Ba Tư.

Chỉ một vài quốc gia phụ thuộc vào các sản phẩm hydrocarbon của khu vực Vịnh Ba Tư như là Ấn Độ, quốc gia mà nhập khẩu đến gần 80% lượng tiêu thụ trong nước. Ba Tư là quốc gia thuần xuất khẩu dầu hỏa lớn thứ ba thế giới (cũng như lớn thứ hai thế giới về xuất khẩu trữ lượng khí tự nhiên), và nó là một cửa ngõ có vị thế chiến lược đi sang các quốc gia cung ứng năng lượng khác ở Trung Á lẫn Trung Đông.

Iraq và Ba Tư đã từng là hai nhà cung ứng dầu hỏa chủ yếu của Ấn Độ. Tuy nhiên Iraq thì đã ngã xuống làm mồi cho sự chiếm đóng lâu dài của Hoa Kỳ, và quốc gia còn lại hiện đang phải đối mặt với lệnh cấm vận xuất khẩu dầu hỏa do Hoa Kỳ cầm đầu cho mưu đồ phong tỏa Ba Tư về mặt tài chính.  Kết quả là, những nỗ lực từ phía Hoa Kỳ nhằm làm cho Hành động Trừng phạt Ba Tư trở nên có hiệu lực quốc tế tạo thành một trở ngại nghiêm trọng gấp đôi dành cho Ấn Độ.

Thứ nhất, điều đó đe dọa phá hoại chiến lược đa dạng hóa nguồn năng lượng nhập khẩu của Ấn Độ bằng việc khiến cho Ấn phải phụ thuộc thái quá vào nguồn cung cấp dầu mỏ từ các quốc gia Hồi giáo theo chế độ quân chủ - bao gồm Ả Rập Xê Út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), và Qatar, những quốc gia đã xoay xở để thoát khỏi cuộc Cách Mạng Mùa Xuân Ả Rập. Thứ nhì, sự cô lập Ba Tư về lâu dài sẽ khiến cho Ấn Độ rất khó khăn trong việc đóng một vai trò tích cực hơn tại Afghanistan khi mà Hoa Kỳ đang đẩy nhanh quá trình triệt thoái quân đội của mình và tìm cách để đàm phán với Taliban ở A Phú Hãn.

Ấn Độ, một trong các quốc gia viện trợ lớn nhất cho A Phú Hãn, không có chung đường biên giới với quốc gia này nên việc lui tới đều phải dựa vào Ba Tư. Cả hai quốc gia đều chia sẻ một mục tiêu chung ở A Phú Hãn - đảm bảo rằng Taliban với sự hẫu thuận từ Hồi Quốc(Pakistan) không trở lại nắm quyền. Nếu sau sự chấm dứt các chiến dịch quân sự do Mỹ cầm đầu,tình hình vốn đã bất ổn ở chiến trường A Phú Hãn xấu đi, thì Ấn Độ và Ba Tư có lẽ bị ép phải phục hồi sự hợp tác chiến lược giữa hai nước trong thập niên 1990. Lúc bấy giờ là Liên minh phương Bắc, được hậu thuẫn bởi Ấn Độ, Ba Tư và Nga, đã lật đổ chế độ Taliban ở Kabul vào cuối năm 2001 với sự giúp đỡ của không quân chiến đấu Hoa Hỳ.

Đối với Mỹ hiện nay, việc kiềm chế Ba Tư được quyết nghị bởi một số những cân nhắc về mặt địa chính trị. Một sự cân nhắc là cần thiết để trung hòa các lợi thế chiến lược mà Ba Tư đã đạt được từ việc lật đổ Saddam Hussein ở quốc gia Iraq láng giềng - một bước phát triển mà đã giúp trao quyền cho số đông người theo dòng hồi giáo Shia của Iraq. Tổng thống George W. Bush đã gọi Ba Tư là một phần của "trục ma quỷ", cho nên quyết định xâm lược và chiếm đóng Iraq của ông ta đã đem lại lợi ích cho những người theo dòng hồi giáo Shia chiếm ưu thế ở Ba Tư.

Hơn nữa, các nhân tố địa chính trị khu vực đã làm hố ngăn cách đối với khối “Tín ngưỡng Hồi giáo dòng Sunni” hùng mạnh, đang lãnh đạo ở Thỗ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê Út, Qatar, và Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất chống lại khối các quốc gia theo “Tín ngưỡng Hồi giáo dòng Shia” bị cô lập - gồm Ba Tư, Iraq, Syria và Li Băng. Hoa Kỳ đã trục lợi từ một liên minh trường kỳ với khối Hồi giáo theo dòng Sunni. Ngoài những lợi thế chiến lược, mối quan hệ chặt chẽ của Hoa Kỳ với các lãnh tụ Hồi giáo nắm dầu hỏa(sheikhdom) - họ là những chủ nhân nắm giữ lượng dự trữ ngoại hối hàng đầu thế giới - góp phần vào việc vực dậy đồng Đô la Mỹ.

Dựa trên bối cảnh này, chương trình hạt nhân của Ba Tư đã trở thành biểu tượng của những căng thẳng địa chính trị lớn hơn nằm bên dưới của sự đối đầu giữa Mỹ và Ba Tư. Thật vậy, vấn đề hạt nhân đã giúp hợp lý hóa thế đối đầu giữa 2 nước, với các nhà lãnh đạo Ba Tư định hướng dân chúng trong nước bằng cách xách động nên chủ nghĩa hạt nhân quốc gia còn Mỹ thì kích động dư luận quốc tế bằng cách ca bài ca về mối đe dọa phổ biến vũ khí hạt nhân.

Ấn Độ nên tìm cách thể hiện vai trò của một người trung gian trung thực nhằm tháo gỡ mối đe dọa về các hoạt động quân sự thù địch, mà sự đe dọa này sẽ có nhiều khả năng gây ra việc phong tỏa tuyến đường xuất khẩu dầu hỏa quan trọng vào bậc nhất thế giới, Eo biển Hormuz (một mối nguy mà Ba Tư đã cho biết cũng có nghĩa là tiềm ẩn trong một lệnh cấm vận xuất khẩu dầu chống lại nước này). Tuy nhiên, thay vì có thể đóng vai trò một người xây dựng cầu nối giữa Hoa Kỳ và Ba Tư, Ấn Độ đang bị buộc phải thực thi chính sách đu dây(walk a policy tightrope), và mong mỏi của Ấn vạch ra một con đường trung lập đã gây khó chịu cho cả hai bên.

Mỗi khi một đoàn đại biểu cấp cao Ấn Độ viếng thăm Ba Tư, hoặc ngược lại, Hoa Kỳ cảnh báo Ấn Độ rằng việc quá gần gũi với Ba Tư “đặt ra những chướng ngại” để xây dựng một mối quan hệ đối tác chiến lược gần gũi hơn. Thế nhưng, bằng cách biểu quyết chống lại Ba Tư tại cuộc họp hội đồng của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế trong năm 2005 và 2006, Ấn Độ đã tự chuốc lấy sự trả thù của Ba Tư dưới hình thức huỷ bỏ hợp đồng cung cấp khí tự nhiên hóa lỏng trị giá 22 tỷ Mỹ kim trong thời hạn 25 năm rất đáng giá.

Tóm lại, vấn đề Ba Tư đã trở thành một phép thử ngoại giao: Ấn Độ sẽ phải chọn lựa vì lợi ích chiến lược và năng lượng trong khu vực, hay sẽ cùng hợp tác để đáp ứng lợi ích trong ngắn hạn với đồng minh của mình, là Hoa Kỳ? Về phần mình, Hoa Kỳ phải cân nhắc các áp lực mà Ấn Độ phải chịu có liên quan tới Ba Tư, mà áp lực này vốn vẫn còn nhiều khả năng tiếp diễn, bất chấp sự cắt giảm các hoạt động trừng phạt, với tôn chỉ nhằm xây dựng những mối liên hệ phòng thủ sâu rộng hơn với Ấn Độ, từ đó tạo sức nặng chiến lược cho tuyên bố “quay lại” Châu Á.

BS Hồ Hải hiệu đính - Asia Clinic, 17h11' ngày thứ Bảy, 21/7/2012