Hiển thị các bài đăng có nhãn quyền lực mềm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quyền lực mềm. Hiển thị tất cả bài đăng
Bài đọc cùng tác giả: 

Bài đọc liên quan:

Bài viết gốc: The Long March from Shanghai

Bài viết của Christopher R. Hill. Ông là cựu Trợ lý Ngoại trưởng đặc trách Đông Á, là Đại sứ Mỹ tại Iraq, Hàn Quốc, Macedonia, Ba Lan, đặc phái viên của Mỹ cho Kosovo, một nhà đàm phán của Hiệp định hòa bình Dayton, và trưởng đoàn đàm phán của Mỹ với Bắc Triều Tiên từ 2005-2009. Ông hiện là Hiệu trưởng Korbel School of International Studies, thuộc University of Denver, Colorado – Hoa Kỳ.

THƯỢNG HẢI - Bốn mươi năm trước, vào tháng 2 năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard M. Nixon đã công du đến Trung Hoa. Vào cái ngày thứ bảy của “cái tuần thay đổi thế giới", theo cách nói của Nixon là, ông và Thủ tướng Trung Hoa Chu Ân Lai đã ký kết "Thông cáo Thượng Hải, bắt đầu bình thường hóa quan hệ song phương và ràng buộc Hoa Kỳ - một nước đồng minh ủng hộ chính của Đài Loan - vào học thuyết "Một nước Trung Hoa" của nền Cộng hòa nhân dân.

Báo cáo phấn khởi của Nixon là điển hình của tâm trạng của ông lúc ấy. Trong khi ông không yêu cầu phải có thay đổi hệ thống nội bộ của Trung Hoa, trên thực tế ông đã tập trung vào vấn đề mũi nhọn là sắp xếp lại cơ bản sự cân bằng siêu cường của thời đại, và gia tăng vững chắc sự ghẻ lạnh giữa Liên Xô và Trung Hoa đã được tiến hành trong nhiều năm. Trong một nghĩa nào đó, chuyến công du của Nixon là bắt đầu cho sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh.

Bốn mươi năm sau, mối quan hệ Mỹ-Trung đã phát triển theo cấp số nhân để trở thành mối quan hệ song phương quan trọng và phức tạp nhất trên thế giới. Đặc biệt, những ràng buộc kinh tế của 2 nước, đã phát triển theo những cách không bao giờ ai có thể tưởng tượng như hiện thời. Trung Hoa đã nổi lên như nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, và tốc độ thay đổi của xã hội và chính trị đã được cân bằng một cách ngoạnmục.

Tuy nhiên, khi Nga Trung liên kết quyền phủ quyết đối với nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vào ngày 05 tháng 02 năm 2012 đã nói lên rằng, các mối quan hệ Mỹ-Trung vẫn còn là một việc làm trong một tiến trình dài. Nó đòi hỏi phải giải quyết cẩn thận và khéo léo, điều này có thể đã thiếu trong ngày hôm đó.

Nga đã có một mối quan hệ lâu đời với chế độ Assad của Syria, và họ quyết định phủ quyết nghị quyết dường như bắt nguồn từ trong chính sách Trung Đông của Nga. Ngược lại, quyết định của Trung Hoa, dường như được dựa trên sự nghi ngờ về chính sách đối ngoại của Mỹ - thực vậy, một khái niệm nghe rất nhiều ở Trung Hoa trong những ngày này: sự thiếu tin cậy chiến lược.

Như câu nói của một nhà hàn lâm nổi tiếng nói với tôi ở Thượng Hải: "Như con chim trúng tên, nó sợ cành cong"(1). Có nghĩa là, năm ngoái, Trung Hoa đã hỗ trợ nghị quyết Hội đồng Bảo an để bảo vệ dân thường Libya từ Đại tá Muammar el-Qaddafi, và NATO đã sử dụng nghị quyết đó để quyết định can thiệp hỗ trợ làm thay đổi chế độ mà, việc đó đã làm tổn thương Trung Hoa quá mức, cho nên Trung Hoa sẽ không hợp tác ở một trường hợp khác.

Kết quả là, Trung Hoa đã chọn quyền phủ quyết một nghị quyết được sự hỗ trợ rộng rãi trong cộng đồng quốc tế, bao gồm cả Liên đoàn Ả Rập, và Trung Hoa đang chịu một đòn đánh rất xứng đáng(well-deserved blow) vào uy tín quốc tế của mình trong tiến trình này. Thật vậy, không giống như người Nga, họ đã cử Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov đến Damascus(2) ngay ngày hôm sau, Trung Hoa dường như không có sự thay đổi tư duy ngoại giao, do đó Trung Hoa ra mặt cản trở nghị quyết như một thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc không sẵn sàng để hoạt động như một bên liên quan có tiếng nói quyết định(stack-holder) trong một hệ thống quốc tế, mà Trung Hoa từ chối sự quan tâm đến những cuộc tấn công nã pháo vào thường dân ở Syria, vì họ xem nó chỉ là những vấn đề nội bộ của nước này.

Với tầm quan trọng của mối quan hệ Mỹ-Trung, không nên coi những khó khăn trong ngoại giao với Trung Hoa là tin tốt. Những sai lầm của Trung Hoa là không được lập lại.

Thất bại của nghị quyết Hội đồng Bảo An không chỉ bộc lộ sự thiếu quyết tâm của cộng đồng quốc tế trong việc đối đầu với chế độ Assad (thực vậy, nhiều nhà bình luận tin rằng phủ quyết nghị quyết đã làm tai hại nhiều hơn lợi); nhưng nó cũng tăng cường sự hợp tác Nga-Trung – một cách chính xác là cái mà các nhà ngoại giao Mỹ năm 1972 đã tìm kiếm để làm suy yếu Liên Xô. Ý thức sự cấp bách phản ánh trong những nỗ lực để giải quyết tình hình xấu đi nhanh chóng Syria nên được áp dụng cho các vấn đề phát sinh trong mối quan hệ Mỹ-Trung.

Quyền phủ quyết của Trung Hoa không phải không có trọng lượng. Quyết định gần đây của Mỹ để bắt đầu từ bỏ cuộc chiến tranh ở Nam Á và Trung Đông và tái tập trung vào Đông Á (như nó được gọi là "cái trục") đã bắt đầu được xem giống như một nỗ lực để đối đầu với Trung Hoa, nơi mà họ đã đưa ra lời khẳng định đinh tai nhức óc về chủ quyền Biển Đông(3). Mặc dù hàng ngàn năm đối phó vớicác nước nhỏ láng giềng phía nam, gần đây, một Trung Hoa ngày càng quyền lực hơn đã không có chính sách ngoại giao tốt với các láng giềng đó của mình.

Bốn mươi năm trước, người Trung Hoa lo lắng về một âm mưu của Liên Xô bao vây đất nước của họ. Ngày nay, có một mối quan tâm mới nó được bày tỏ bỡi các bloggers của Trung Hoa và bỡi một thế hệ trẻ ngày càng quyết đoán – rằng chính phủ Trung Hoa đang cho phép Mỹ làm điều tương tự như Liên Xô cách đây 40 năm. Với quan điểm đó Trung Hoa thì, Hoa Kỳ đang tìm thấy ở Trung Hoa là một đối tác ngày càng miễn cưỡng về các vấn đề liên quan đến lợi ích chung của đôi bên.

Trung Hoa không sẵn sàng để giải quyết vấn đề một Bắc Triều Tiên tráo trở - đó là, làm sao để đi xa hơn các cuộc đàm phán mơ hồ và yếu ớt -một thí dụ điển hình(a case in point). Lẽ ra Mỹ và Trung Hoa nên giả mạo một chiến lược chung để ngăn chặn Bắc Triều Tiên xây dựng vũ khí hạt nhân. Thay vào đó, lại hoàn thành những việc nhỏ nhặt, là vì gia tăng sự thiếu tin cậy của Trung Hoa.

Nhưng không có quốc gia nào đang cố gắng ngăn chặn, hay ít nhiều bao vây Trung Hoa cả. Trung Hoa cần phải nhìn vào bên trong nước mình và hiểu rằng các vấn đề trong nước của nó không còn có thể giải quyết được một khi chủ nghĩa dân tộc bùng lên từ những sự khinh suất thực hay tưởng tượng từ hải ngoại. Một "Thế kỷ ô nhục"(4) của Trung Hoa còn xảy đến.

Ngay sau khi Thông cáo Thượng Hải, Trung Hoa đã bắt tay vào một cuộc hành trình lịch sử mà ở đó Vạn Lý Trường Chinh huyền thoại của Mao Trạch Đông có vẻ như chỉ đi dạo trong công viên. Trung Hoa (một cách khôn ngoan) đã chọn con đường tham gia với thế giới. Một phần của cuộc hành trình Trung Hoa đã được hiểu rõ hơn làm thế nào để cân bằng giữa lợi ích và thái độ của Trung Hoa với nhiều quốc gia trên cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, Mỹ cũng cần phải hiểu rằng mối quan hệ với Trung Hoa, như một quan chức Trung Hoa nhận xét, "quá lớn để sụp đổ"(5), và cần phải giải quyết theo từng mục đích. Để tập trung vào nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của Mỹ về Trung Hoa, như một số chuyên gia Mỹ cho thấy, đề nghị rằng nỗi lo sợ này là một yếu tố nguy hiểm trên thế giới, là sự mạo hiểm đang tạo ra một lời tiên tri cho sự hoàn thành ước nguyện của chính mình.

Dân số của Syria là rất nhỏ so với Trung Hoa, nó không có nghĩa là để nói rằng Syria, hoặc sự đau khổ của người dân Syria, là không quan trọng. Nhưng nó cho thấy sự cần thiết phải xem xét các mối quan hệ của Mỹ với Trung Hoa tại Liên Hợp Quốc và các nơi khác, và để làm một công việc tốt hơn ngăn chặn nhiều sự cố giống như ở New York vào ngày 05 tháng 2.(6)

Bản quyền: Project Syndicate, 2012.

Ghi chú người dịch:
(*) The Long March: Xem lại ghi chú ở bài: Vạn lý trường chinhvới Trung Hoa.

1. “Once bitten by a snake, a man fears a length of rope”:Dịch thoát ý cho phù hợp với văn hóa Việt Nam ở câu này của tác giả. Nguyên văn nó nếu dịch chân phương phải là "Sau khi bị cắn bởi một con rắn, người ta sợ hình ảnh dài của sợi dây thừng".

2. Damacus:Thủ đô của Syria.

3. The South China Sea: Biển Nam Trung Hoa theo nguyên văn bài viết của tác giả.

4. China’s “century of shame”: Cách chơi chữ của tác giả ý nói giai đoạn cuối nhà Thanh đến khi Mao thống nhất Trung Hoa, đất nước Trung Hoa bị chia năm xẻ bảy và làng sóng di dân ra toàn câu do phương Tây xâm lược.

5. Too big to fail: Một cách chơi chữ mượn cái tên cuốn sách “Too big to fail” của Andrew Ross Sorkin - một nhà báo phụ trách cột tài chính của tờ New York Times - viết năm 2009 đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Sách nói về những phát triển nhanh chóng của kinh tế toàn cầu như những chiếc rễ tiền tệ và giao thương thế giới tư bản quá lớn vượt ra ngoài sự quản lý của hệ thống chính trị không còn đảm đương được nữa nên phải sụp đổ. Quan điểm này lại trái ngược với GS Joseph E. Stiglitz, khôi nguyên giải Nobel kinh tế 2001 là “Too big tolive”.

6. New York on February 5: Ý tác giả ám chỉ sự cố Trung Quốc liên kết với Nga để phủ quyết nghị quyết của Hội Đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc tại New York với 2/15 phiếu chống Nga và Trung Quốc và 13/15 phiếu thuận của 15 Ủy viên thường trực nhiệm kỳ 2011-2012. Đây phải được xem là một sự kiện quan trọng trong thất bại ngoại giao của Hoa Kỳ.

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic - 16h'49' ngày thứ Sáu, 17/02/2012
Bài viết của ông Joseph S. Nye, Jr, ông là cựu Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, là cha đẻ của lý thuyết Quyền lực mềm, là giáo sư tại Đại học Harvard và là tác giả của cuốn sách: Tương lai của quyền lực.

Bài viết gốc: When Women Lead


MUNICH – Liệu thế giới có hòa bình hơn nếu phụ nữ lãnh đạo? Một cuốn sách mới đưa ra những vấn đề thách thức của nhà tâm lý học Steven Pinker ở Đại học Harvard cho câu trả lời là "có".

Trong những thiên thần tốt hơn của tạo hóa của chúng ta, dữ liệu mà Pinker trình bày cho thấy rằng bạo lực con người vẫn còn rất nhiều với chúng ta ngày nay, đã được giảm dần. Hơn nữa, ông nói, "Qua chiều dài của lịch sử, phụ nữ đã, đang và sẽ là một lực lượng hòa bình. Truyền thống chiến tranh là trò chơi của đàn ông: những bộ lạc phụ nữ không bao giờ liên kết với nhau để tấn công các làng lân cận". Là những người mẹ, phụ nữ có động lực tiến hóa để duy trì các điều kiện hòa bình, trong đó để nuôi dưỡng con cái của họ và đảm bảo rằng các tập tính di truyền của họ tồn tại truyền lại cho đời sau.

Những người theo trường phái hoài nghi ngay lập tức đáp trả rằng, phụ nữ không làm nên chiến tranh đơn giản chỉ vì họ hiếm khi được nắm quyền. Nếu họ được uỷ quyền làm nhà lãnh đạo, những tình trạng của một thế giới vô chính phủ sẽ buộc họ phải đưa ra những quyết định hiếu chiến như những người đàn ông. Margaret Thatcher, Golda Meir, Indira Gandhi(1) là những phụ nữ đầy quyền lực, tất cả trong số họ đã dẫn đất nước họ đến chiến tranh.

Nhưng có một sự thật rằng những phụ nữ này đã lên lãnh đạo bằng cách chơi phù hợp theo các quy tắc chính trị thành công của “thế giới đàn ông”. Thành công của họ phù hợp với những giá trị của đàn ông, nó cho phép họ lãnh đạo ở địa vị hàng đầu thế giới. Trong một thế giới mà phụ nữ được nắm một tỷ lệ tương xứng (một nửa) những vị trí lãnh đạo thì, họ có thể cư xử khác trong quyền lực.

Vì vậy, chúng ta nên đặt một vấn đề rộng hơn: Có phải giới tính thực sự quan trọng trong lãnh đạo? Trong những điều kiện giống nhau, những nghiên cứu tâm lý khác nhau cho thấy rằng đàn ông có khuynh hướng sử dụng sức mạnh vai u thịt bắp trong mệnh lệnh, trong khi đó phụ nữ thì sử dụng sư hợp tác và trực giác để nhận thức được sức mạnh mềm của sự thu hút và thuyết phục. Người Mỹ có xu hướng mô tả lãnh đạo theo khuôn mẫu nam giới thì cứng rắn, nhưng những nghiên cứu lãnh đạo gần đây cho thấy sự thành công tăng lên đối với những lãnh đạo đã từng được xem là có một "phong cách nữ tính".

Ở thời đại thông tin, hệ thống mạng thông tin đã làm mất đi tôn tri cấp bậc, và những người làm công có tri thức đã giảm đi sự cung kính. Quản lý trong một phạm vi rộng của các tổ chức đang thay đổi theo hướng của sự "chia sẻ lãnh đạo", và "phân phối lãnh đạo", với các nhà lãnh đạo ở vị trí trung tâm của một vòng tròn chứ không phải là ở trên đỉnh của một kim tự tháp. Cựu Giám đốc điều hành Google, Eric Schmidt nói rằng ông đã phải "nâng niu" nhân viên của mình.

Ngay cả quân đội cũng phải đối mặt với những thay đổi này. Tại Hoa Kỳ, Lầu Năm Góc nói rằng các huấn luyện viên (drillmasters) quân đội đã "ít la hét với mọi học viên", bởi vì thế hệ ngày nay đáp ứng tốt hơn với giáo viên hướng dẫn ở "một vai trò kiểu tư vấn hơn là học viên". Thành công quân sự chống lại những kẻ khủng bố và chống những kẻ nổi dậy (counterinsurgents) yêu cầu binh sĩ chiến thắng cả tình cảm và lý trí, chứ  không chỉ hủy diệt những công trình xây dựng và con người.

Cựu Tổng thống Mỹ George W. Bush đã từng mô tả vai trò của mình là "người quyết định", nhưng cần nhiều hơn nữa cho một lãnh đạo hiện đại. Các nhà lãnh đạo hiện đại phải có khả năng sử dụng công nghệ thông tin, biết hợp tác, và có khả năng khuyến khích sự đồng thuận. Phong cách không phân biệt cấp bậc của phụ nữ và kỹ năng quan hệ phù hợp với nhu cầu lãnh đạo trong thế giới mới của những tổ chức và những nhóm dựa trên tri thức mà, người đàn ông, thông thường, ít chuẩn bị tốt để đáp ứng.

Trong quá khứ, khi phụ nữ chiến đấu theo cách của họ để đứng đầu các tổ chức, họ thường phải sử dụng một "phong cách nam tính," vi phạm chuẩn mực xã hội chung của phụ nữ là “sự tế nhị”. Tuy nhiên, ngày nay với cuộc cách mạng thông tin và dân chủ hóa đòi hỏi nhiều hơn nữa sự tham gia của lãnh đạo, “phong cách nữ tính" đang trở thành một con đường để lãnh đạo hiệu quả hơn. Để dẫn đến thành công, những người đàn ông sẽ không chỉ có giá trị phong cách này ở những nữ đồng nghiệp của họ, mà còn cần phải nắm vững các kỹ năng tương tự.

Đó là một xu hướng, không (chưa) là một thực tế. Phụ nữ vẫn tụt hậu ở các vị trí lãnh đạo, họ chỉ nắm 5% các vị trí hàng đầu của tổ chức và một thiểu số các vị trí trong cơ quan lập pháp dân cử (ví dụ chỉ 16% ở Mỹ, so với 45% ở Thụy Điển). Một nghiên cứu của 1.941 nhà lãnh đạo của các quốc gia độc lập trong thế kỷ XX cho thấy chỉ có 27 phụ nữ, khoảng một nửa trong số họ lên nắm quyền là góa phụ hoặc là con gái của một lãnh đạo nam giới. Ít hơn 1% của các nhà lãnh đạo thế kỷ XX là phụ nữ tự giành được quyền lực cho mình.

Vì vậy, sự suy xét đúng trong các nghiên cứu lãnh đạo ở vào thời đại thông tin có nghĩa là bước vào thế giới của một người phụ nữ, là tại sao phụ nữ vẫn chưa có vị trí tốt hơn?
Thiếu kinh nghiệm, trách nhiệm chăm sóc chính của gia đình, phong cách thương lượng, và quan niệm phân biệt đối xử xưa cũ làm nên khoảng cách giới tính. Con đường sự nghiệp có tính truyền thống, và các chuẩn mực văn hóa đã xây dựng và củng cố chúng, chỉ đơn giản là không cho phép phụ nữ đạt được các kỹ năng cần thiết cho các vị trí lãnh đạo hàng đầu trong nhiều bối cảnh của một tổ chức.

Nghiên cứu cho thấy rằng ngay cả trong xã hội dân chủ, phụ nữ phải đối mặt với một nguy cơ xã hội cao hơn so với nam giới, khi họ cố gắng đàm phán cho các sáng kiến liên quan đến nghề nghiệp ví dụ như sự đền bù. Phụ nữ thường không được hội nhập vào mạng lưới các tổ chức mà ở đó nam giới thống trị, và định kiến ​​giới tính vẫn còn cản trở những cố gắng của phụ nữ vượt qua các rào cản như vậy.

thiên vị này đang bắt đầu phá vỡ trong xã hội thông tin, nhưng lại là một sai lầm để xác định loại lãnh đạo mới mà chúng ta cần trong thời đại thông tin chỉ đơn giản là “một thế giới phụ nữ”. Ngay cả những mẫu người tích cực cũng là tệ đối với phụ nữ, đàn ông, và lãnh đạo có hiệu quả.

Các nhà lãnh đạo nên được xem xét ít trong mối quan hệ của sự kiềm chế khoa trương hơn là khuyến khích sự đồng thuận thông qua một tổ chức, nhóm, quốc gia, hoặc mạng lưới. Những vấn đề của phong cách thích hợp - khi sử dụng các kỹ năng cứng và mềm - đều có giá trị như nhau cho nam giới và phụ nữ trong lãnh đạo, và không nên bị vẩn đục bởi các định kiến giới tính xưa cũ. Trong một số trường hợp, người đàn ông sẽ cần phải hành động "như phụ nữ", mặt khác, phụ nữ cũng cần phải hành động "giống như đàn ông".

Các lựa chọn then chốt cho chiến tranh và hòa bình trong tương lai của chúng ta sẽ không phụ thuộc vào giới tính, nhưng làm thế nào để các nhà lãnh đạo kết hợp được những kỹ năng của quyền lực cứng và mềm để làm nên những chiến lược thông minh. Cả đàn ông và phụ nữ sẽ phải thực hiện những quyết định đó. Nhưng Pinker có lẽ đã chính xác khi ông lưu ý rằng ở các nước bị tụt hậu trong suy tàn do bạo lực cũng là những nơi mà ở đó bị tụt hậu trong việc trao quyền cho phụ nữ.

Bản quyền: Project Syndicate, 2012.
www.project-syndicate.org

Ghi chú của người dịch:
Margaret Thatcher: sinh ngày 13/10/1925. Bà là Nam Tước nước Anh, chính khách. Bà được mệnh danh là bà Đầm Thép. Lãnh tụ đảng bảo thủ Anh từ 1975 đến 1990. Bà cũng là thủ tướng nước Anh từ năm 1979 đến 1990. Trong lịch sử nước Anh bà là người phụ nữ duy nhất nắm giữ 2 chức vụ chủ tịch một đảng phái và thủ tướng. 
Golda Meir: sinh ngày 03/5/1898 mất ngày 08/12/1978. Bà là người Nga gốc Do Thái, sinh ra ở thành phố Kiev, nên bà còn có cái họ rất Nga là Golda Mabovitch. Bà là ngoại trưởng của Irael từ năm 1956 đến 1966. Và bà cũng là thủ tướng của Irael từ 1969 đến 1974. 

Indira Gandhi: Bà là con gái của vị thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ - ông Jawaharlal Nehru. Bà sinh ngày 19/11/1917 và mất ngày 31/10/1984 trong một vụ ám sát. Bà làm 2 lần thủ tướng Ấn Độ. Lần đầu từ năm 1966 đến 1977 và lần thứ hai từ 1980 đến ngày bị ám sát 31/10/1984. Bà không có họ hàng gì với Thánh Mahatma Gandhi. Và bà là mẹ của một thủ tướng Ấn Độ khác là Rajiv Gandhi cũng bị ám sát.

BS Hồ Hải dịch, Tư Gia, 0h51' ngày thứ Năm 09/02/2012

Bài viết của ông Joseph S. Nye, một cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng, là một giáo sư tại Đại học Harvard và là tác giả của cuốn Tương lai của quyền lực (The future of Power).

CAMBRIDGE - Châu Á trở lại trung tâm của những vấn đề thế giới là sự thay đổi quyền lực vĩ đại của thế kỷ 21. Năm 1750, châu Á đã có khoảng ba phần năm dân số thế giới và chiếm ba phần năm sản lượng toàn cầu. Đến năm 1900, sau cuộc Cách mạng công nghiệp ở châu Âu và châu Mỹ, châu Á chia sẻ sản lượng toàn cầu đã giảm xuống còn một phần năm. Đến năm 2050, châu Á sẽ thẳng tiến trên con đường trở lại nơi nó đã đạt được 300 năm trước đó.

Tuy nhiên, thay vì dành một con mắt để quan tâm quả bóng Đông Á, Hoa Kỳ đã lãng phí thập niên đầu của thế kỷ này vì chuyện sa lầy trong cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan. Bây giờ, khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đặt nó trong một bài phát biểu gần đây, chính sách đối ngoại Mỹ sẽ đặt "trọng tâm" hướng về Đông Á.

Tổng thống Mỹ Barack Obama quyết định đưa 2.500 lính Thủy quân lục chiến của Mỹ về một cơ sở ở miền bắc Australia là một dấu hiệu sớm của trọng tâm đó. Ngoài ra, cuộc họp về Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương vào Tháng Mười Một, được tổ chức quê nhà ông Obama tại tiểu bang Hawaii, thúc đẩy một thiết lập mới của các cuộc đàm phán thương mại được gọi là Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Cả hai sự kiện củng cố thông điệp của Obama tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương rằng Mỹ có ý định vẫn là một quyền lực tham gia.

Trọng tâm hướng đến châu Á không có nghĩa là các bộ phận khác trên thế giới không còn quan trọng nữa, ngược lại, ví dụ châu Âu, có một nền kinh tế lớn hơn nhiều và giàu hơn so với Trung Quốc. Tuy nhiên, theo cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Obama, Tom Donilon, gần đây đã giải thích, chính sách ngoại giao Mỹ trong vài năm qua đã bị chỉ trích các cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, lo ngại về khủng bố, và vì những mối đe doạ phổ biến vũ khí hạt nhân của Iran và Bắc Hàn, và gần đây những cuộc nổi dậy của Ả Rập. Chuyến đi vào tháng Mười Một của Obama là một nỗ lực để sắp xếp ưu tiên chính sách đối ngoại của Mỹ với tầm quan trọng lâu dài của khu vực.

Theo lời của Donilon, "Bỡi nhận thức cao về khu vực năng động này thành một trong những ưu tiên hàng đầu chiến lược của chúng ta, Obama đang thể hiện quyết tâm của mình không để cho con tàu nhà nước Mỹ tách rời với quá trình của những cuộc khủng hoảng hiện hành". Chính quyền Obama cũng công bố rằng, bất kể kết quả của các cuộc tranh luận về ngân sách quốc phòng tại quốc hội, "Chúng ta sẽ phải chắc chắn rằng chúng ta bảo vệ các khả năng mà chúng ta cần, để duy trì sự hiện diện của chúng ta trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương".

Chuyến đi Tháng Mười Một của Obama cũng là một thông điệp gửi đến Trung Quốc. Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, nhiều người Trung Quốc bày tỏ niềm tin sai lầm rằng Hoa Kỳ đang ở thời kỳ cuối của một đế chế suy tàn, và rằng Trung Quốc nên quyết đoán hơn - đặc biệt là trong việc theo đuổi mục đích kiểm soát hàng hải trong vùng biển ở phía Nam Trung Hoa – làm mất uy tín (expense) các đồng minh và bạn bè Mỹ. Trong năm đầu tiên của Obama ở toà Bạch Ốc, chính quyền của ông đặt ưu tiên cao về hợp tác với Trung Quốc, nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc dường như hiểu sai chính sách của Mỹ như là một dấu hiệu của sự yếu đuối.

Chính quyền đã cứng rắn hơn khi Clinton giải quyết vấn đề Biển Đông tại cuộc họp Hiệp hội các quốc gia khu vực Đông Nam Á Hà Nội trong tháng 7 năm 2010. Sau đó Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào viếng thăm chính thức tới Washington thành công vào tháng 1 năm 2011, nhưng nhiều người viết xã luận Trung Quốc đã phàn nàn rằng Mỹ đã cố gắng để "kiềm chế" Trung Quốc và ngăn chặn sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc.

Trung Quốc lo lắng về một chính sách kiềm chế đã được Mỹ làm nóng lên một lần nữa, bây giờ chính bà Clinton khẳng định rằng tranh chấp hàng hải với các nước láng giềng được đặt trong chương trình nghị sự trong năm tới của Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Manila, mà sẽ có sự tham dự của Obama, Hồ Cẩm Đào, và các nhà lãnh đạo khác trong khu vực.

Tuy nhiên, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc là khác với cuộc chiến tranh lạnh kiềm chế khối Xô Viết. Trong khi Mỹ và Liên Xô đã hạn chế thương mại và liên hệ xã hội, Hoa Kỳ là thị trường nước ngoài lớn nhất của Trung Quốc, hoan nghênh và tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và mở cửa các trường đại học của mình để 125.000 sinh viên Trung Quốc đến du học mỗi năm. Nếu chính sách hiện tại của Mỹ đối với Trung Quốc được coi là một kiểu chiến tranh lạnh kiềm chế Trung Quốc, thì đây có vẻ như là một sự nồng ấm bất thường.

Chiến lược Đánh giá Đông Á của Lầu Năm Góc, trong đó đã hướng dẫn chính sách của Mỹ kể từ năm 1995, ủng hộ Trung Quốc hội nhập vào hệ thống quốc tế thông qua các chương trình thương mại và trao đổi. Mặc dù Mỹ phải đặt cược mình bằng cách lập một hàng rào ngăn cách với Trung Quốc là phải đồng thời tăng cường liên minh với Nhật Bản, điều này không phải là ngăn chặn. Sau cùng là, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể dự đoán được ý định của người kế nhiệm của họ. Mỹ đang dự đoán là họ sẽ có quan điểm hòa bình, nhưng không ai chắc chắn điều đó. Nên một hàng rào ngăn cách ấy là thể hiện sự thận trọng, không phải là vì ý đồ xâm lược.

Lực lượng quân sự Mỹ không mong muốn "kiềm chế" Trung Quốc như trong thời chiến tranh lạnh, nhưng họ có thể giúp hình thành môi trường để các nhà lãnh đạo tương lai của Trung Quốc chọn lựa. Tôi đã từng phản đối trước khi Quốc hội Mỹ năm 1995, và cả sau này, đã đồng tình với những người, họ muốn có một chính sách ngăn chặn mạnh hơn so với cam kết: "Chỉ có Trung Quốc có thể kiềm chế Trung Quốc".

Nếu Trung Quốc trở thành một tên côn đồ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, các nước khác sẽ liên kết với Mỹ để đối đầu với Trung Quốc. Thật vậy, đó là lý do tại sao nhiều nước láng giềng của Trung Quốc đã tăng cường mối quan hệ của họ với Hoa Kỳ từ năm 2008, khi chính sách đối ngoại của Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn. Nhưng điều cuối cùng Mỹ muốn là một cuộc Chiến tranh lạnh lần thứ II ở châu Á.

vị thế cạnh tranh ở cả 2 phía, nhưng hợp tác Trung-Mỹ về các vấn đề như ổn định tài chính thương mại, an ninh năng lượng, thay đổi khí hậu, và phòng chống dịch bệnh sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước. Phần còn lại của khu vực đứng để hưởng lợi. Trọng tâm của chính quyền Obama hướng đến Đông Á là bậc đèn xanh công nhận tiềm năng to lớn của khu vực, không phải là một cái loa phát thanh cho kiềm chế Trung Hoa.

Bản quyền: Project Syndicate, 2011.
www.project-syndicate.org

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic - 16h56' ngày thứ Tư, 07/12/2011
Bài viết gốc: Angela Merkel's Vision Thing(1)

Bài viết của Joseph Nye, một cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng thời tổng thống Bill Clinton, là một giáo sư tại Đại học Harvard và là tác giả của cuốn Tương lai của quyền lực (The Future of Power).

CAMBRIDGE – Khi những cuộc chiến đấu của Châu Âu để cứu đồng Euro, âm thanh của các dàn hợp xướng phàn nàn càng phát ra to hơn về sự lãnh đạo yếu kém của những nền kinh tế lớn trên thế giới. Nhiều người đã chỉ trích rằng, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã thất bại trong việc thúc đẩy một tầm nhìn châu Âu, tương tự như của người tiền nhiệm và người cố vấn của bà - ông Helmut Kohl. Liệu các nhà phê bình có đúng không?

Một phần những hiệu quả của các nhà lãnh đạo đã làm là truyền đạt một tầm nhìn mang lại ý nghĩa thực tế cho những chính sách và truyền cảm hứng cho những người khác để hỗ trợ các chính sách này (và những người kiến ​​nghị ra chúng). Đây là một trong những cách mà các nhà lãnh đạo làm để tạo ra các mục tiêu chia sẻ và tiếp sinh lực cho hành động chung. Thông thường, một tầm nhìn như vậy cung cấp một kịch bản cho tương lai, có nghĩa là để khuyến khích thay đổi, mặc dù nó cũng có thể giữ nguyên hiện trạng - hoặc như quá khứ – vì cái hấp dẫn của bảo thủ không muốn thay đổi.

làm bằng cách nào, mà không có tầm nhìn, thì đều khó khăn để lãnh đạo những người khác ở bất cứ nơi đâu. Frederick Smith - CEO của Federal Express - đã cho rằng "nhiệm vụ chính của lãnh đạo là truyền đạt tầm nhìn và các giá trị của một tổ chức."

Nhưng người ta cần phải thận trọng về những tầm nhìn của mình. Đôi khi các nhà lãnh đạo nghĩ rằng tầm nhìn có thể giải quyết hầu hết vấn đề của họ, nhưng tầm nhìn sai lầm - một tầm nhìn quá tham vọng - có thể làm hỏng việc. Cựu tổng thống George H.W. Bush – Ông Bush cha(ND) - đã sai lầm (và là sai lầm của bản thân ông ấy) không có cái mà ông gọi là “tầm nhìn dài hạn”(“The Vision Thing”). Khi bị nhân viên của ông thúc ép và cởi mở hơn thì, Ông trả lời: "Không phải do tôi sai lầm".

Sau cú sốc của những cuộc tấn công vào các tổ chức khủng bố hồi tháng 9 năm 2001, con trai của ông, tổng thống George W. Bush, đã phát triển một tầm nhìn đầy tham vọng hơn rất nhiều. Là một trong những cựu cố vấn, Ông ta đã "không thể cưỡng lại để rút ra các ý tưởng lớn như dân chủ hóa Trung Đông, Những Ý tưởng lớn lại đứng vị thế đối lập với sự thận trọng nhỏ trong cuộc chơi của cha ông". Tuy vậy, ông Bush cha đã có một chính sách đối ngoại tốt hơn.

Một số lãnh đạo có tham vọng nghĩ rằng họ phải công bố một tầm nhìn đáng nễ đến với những người ủng hộ họ. Tuy nhiên, trong thực tế, một tầm nhìn thành công thường phát sinh từ nhu cầu của nhóm, sau đó được xây dựng và kết nối lại bỡi nhà lãnh đạo. Ví dụ, tầm nhìn của Martin Luther King, Jr, được thể hiện trong bài phát biểu của mình "I Have a Dream", là gốc rễ sâu xa không chỉ ở những giá trị công khai của Mỹ về bình đẳng và hòa nhập, mà còn trong kinh nghiệm của người Mỹ gốc Phi về sự bị lệ thuộc và bị loại trừ khỏi đời sống.

Đồng thời, áp lực cũng làm cho một tầm nhìn của một nhà lãnh đạo có thể bị rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Một chủ tịch trường đại học đã nói: "Mọi người đều hỏi, tầm nhìn của bạn là gì? Nhưng bạn sẽ xúc phạm đến nhiều người và gặp rắc rối bỡi cách trả lời quá nhanh. Phản ứng thông minh ngay từ đầu là: "Bạn nghĩ gì?" và sau đó nên lắng nghe trước khi bạn nói lên tầm nhìn của bạn".

Một tầm nhìn thành công phải có sức hấp dẫn đối với những nhóm khác nhau cả những người theo quan điểm của bạnnhững người đã đặt cược tương lai của họ vào bạn. Chơi với nhau tốt không có nghĩa là có thể ngồi làm việc với nhau được. Và, để được bền vững, một tầm nhìn thành công cũng phải là một đánh giá chính xác tình hình mà nhóm phải đối mặt. Các nhà lãnh đạo phải có được những câu hỏi ngay trước khi đề xuất câu trả lời. Việc chọn các mục tiêu và kết nối các thành viên trong một tầm nhìn, cái lãnh đạo cần không phải chỉ thu hút các các tín đồ của họ, mà còn phải hiểu bối cảnh họ đã chọn lựa. Hay nói đúng nghĩa là các lãnh đạo phải có khả năng đánh giá thực tế chính xác.

Tính rõ ràng của một tầm nhìn thay đổi với các loại lãnh đạo khác nhau khi vào cuộc. Các nhà lãnh đạo phong trào xã hội có thể làm cho tầm nhìn của mình ra với cộng đồng lớn hơn so với các công chức văn phòng. Một nhà lãnh đạo phong trào có thể thúc đẩy một tầm nhìn có tác động với cộng đồng đi xa bằng các cộng sự của mình, một thủ tướng nhiều mục tiêu và trách nhiệm để làm, phải duy trì vấn đề đối thoại liên tục với công chúng, mà lại không được xa rời công chúng. Sau khi cựu Phó Tổng thống Mỹ Al Gore bị thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2000, ông trở thành một nhà lãnh đạo của phong trào xã hội để chống lại biến đổi khí hậu toàn cầu, và phong cách của ông phải thay đổi cho phù hợp với thực tế để trở thành một nhà truyền cảm hứng và tiên tri việc của ông sẽ làm.

Các nhà phân tích đánh giá tầm nhìn một nhà lãnh đạo chính phủ là đánh giá về mặt mà lãnh đạo có tạo ra một sự cân bằng hợp lý giữa chủ nghĩa hiện thực và các nguy cơ, lãnh đạo có cân bằng được các mục tiêu với năng lực của mình hay không. Bất cứ ai cũng có thể tạo ra những ước muốn, nhưng những tầm nhìn hiệu quả phải đi với sự cảm hứng có tính khả thi.

Ví dụ, những người chỉ trích cựu Thủ tướng Anh Tony Blair, thừa nhận rằng khả năng của ông tầm nhìn là một trong những điểm mạnh của ông ta như là một nhà lãnh đạo, nhưng phàn nàn về đức tính thiếu sự quan tâm đến những chi tiết nhỏ. Tương tự như vậy, thế kỷ XX, hai tổng thống Mỹ, Woodrow Wilson và George W. Bush, được xem là có một tầm nhìn chính sách đối ngoại đầy tham vọng, nhưng là những người thiếu sự tinh tế và định hình lại tầm nhìn của họ khi họ gặp phải những thách thức trong lúc thực hiện quyền lực. Cả hai ông đều phát huy dân chủ, nhưng cả hai đã thực hiện nó theo cách bị phản tác dụng dữ dội làm cho nó trở thành chống lại thúc đẩy dân chủ.

Tất nhiên, sự thận trọng là chưa đủ. Đôi khi các nhà lãnh đạo cần mở rộng ranh giới của chủ nghĩa hiện thực để truyền cảm hứng đến người ủng hộkêu gọi nỗ lực lớn từ bên ngoài, như Winston Churchill đã làm ở Anh vào năm 1940(2). Tuy nhiên, không có một mức một độ thận trọng nào được dựa trên sự hiểu biết về bối cảnh, tầm nhìn từ lớn đến đại qui môcách cắt xén các giá trị thực tế mà họ tìm cách thúc đẩy cho tầm nhìn của mình được hiện thực.

Giống như Franklin Roosevelt, người đã hành động rất thận trọng trong việc cố gắng thuyết phục
quan điểm ​​của người Mỹ để từ bỏ chú nghĩa biệt lập trong những năm 1930s, bà Merkel đã tiến hành thận trọng về tiết kiệm đồng Euro. phải đối mặt với thái độ hoài nghi của công chúng về việc sử dụng các quỹ của nước Đức để giải cứu nền kinh tế Hy Lạp. Liên minh của bà bị chia rẻ về vấn đề này, và đảng của bà đã bị thất bại trong cuộc bầu cử toàn quốc. Nếu hành động mạnh dạn hơn, có thể đã mất đi nhiều sự hỗ trợ hơn, nhưng các bước đi để dẫn đến sự đồng ý của bà vẫn không đủ để trấn an thị trường.

Tuy nhiên, vào cuối tháng Mười vừa qua, cuối cùng bà Merkel cũng đã nói rõ một tầm nhìn về tương lai của châu Âu, bà đã thuyết phục được Hạ viện Đức(German Bundestag)(3) đồng ý một gói các biện pháp để cứu đồng Euro. Cho dù bà đã chờ đợi quá lâu - và cho dù tầm nhìn của sẽ được chứng minh một cách thuyết phục – nhưng tầm nhìn ấy sẽ được xác định trong những tháng tới.

Bản quyền: Project Syndicate, 2011.
www.project-syndicate.org

Ghi chú của người dịch:
1. Vision Thing: Còn gặp các chữ như: The Vision Thing hay That Vision Thing. Đây là cách chơi chữ của ông tổng thống Bush cha - Georgia H. W. Bush - khi ông yêu cầu nước Mỹ phải tiến hành chiến dịch Bão táp Sa mạc đánh vào Iraq của Saddam Hussein. Nhưng sau cùng chiến dịch này bị thất bại vào năm 1991. Khi bị chỉ trích sai lầm ông cho rằng ông không sai lầm mà, vấn đề của ông là “The Vision Thing”. Có thể dịch đúng nghĩa theo ý ông là: “Tầm nhìn dài hạn”.

2. Tháng 5/1940: khi Đức đánh Pháp chớp nhoáng xuyên qua các quốc gia. Thủ tướng Anh lúc đó là Chamberlain đã không còn được dân chúng tin tưởng và không có khả năng điều hành trong chiến tranh. Chamberlain từ chức, và Winston Churchill được chỉ định. Ông Churchill đã lập ra một chính phủ gồm tất cả các thành viên của mọi đảng phái chính trị nước Anh lúc bấy giờ để tập hợp sức mạnh toàn dân tộc cho cuộc chiến. Với tư duy của đảng Bảo Thủ, ông cương quyết không đầu hàng Đức, mà còn giữ lập trường buộc Đức Quốc Xã phải đầu hàng vô điều kiện. Ông nắm cả bộ quốc phòng và giao nhiệm vụ đúng người, đúng việc. Đặc biệt ông trao quyền cho bạn và là người thân tín của ông, nhà công nghiệp và chủ báo, Nam tước Beaverbrook, chịu trách nhiệm sản xuất máy bay. Nhờ sự nhạy bén đáng kinh ngạc của Beaverbrook nước Anh nhanh chóng tăng tốc độ sản xuất máy bay tới mức làm thay đổi cục diện chiến trường. Ông đã giúp nước Anh vượt qua khó khăn và chiến thắng nhờ biết truyền cảm hứng đến tinh thần dân tộc và sức chiến đấu.

Những bài phát biểu ngắn của Winston Churchill là cảm hứng to lớn cho tinh thần chiến đấu của nước Anh. Bài phát biểu đầu tiên của ông ở cương vị thủ tướng rất nổi tiếng với tên gọi " “Blood, sweat and tears” (“Máu, mồ hôi và nước mắt") với câu nói nổi tiếng: "Tôi không có gì để cống hiến ngoài máu, sự vất vả, nước mắt và mồ hôi" (I have nothing to offer but blood, toil, tears and sweat). Ông đã hành động đúng theo đó và tiếp tục có hai bài phát biểu nổi tiếng khác ngay trước trận không chiến của nước Anh với Đức. Trong một bài này có câu nói bất hủ, "Chúng ta sẽ bảo vệ hòn đảo của chúng ta, dù với bất kỳ giá nào, chúng ta sẽ chiến đấu trên các bãi biển, chúng ta sẽ chiến đấu trên đất liền, chúng ta sẽ chiến đấu trên các cánh đồng và trên các đường phố, chúng ta sẽ chiến đấu trên những quả đồi; chúng ta sẽ không bao giờ đầu hàng". Bài phát biểu kia cũng có một câu nổi tiếng "Vì thế chúng ta hãy can đảm để thực hiện những nghĩa vụ của mình, và hãy hành động để dù Đế chế Anh và Khối thịnh vượng chung của nó tồn tại hàng nghìn năm nữa, mọi người vẫn nói, Đây chính là giờ phút tuyệt vời nhất của họ". Khi trận chiến nước Anh ở thời đỉnh điểm, sự can đảm của ông trước tình thế với câu nói đáng ghi nhớ với các phi công Anh: "Never in the field of human conflict was so much owed by so many to so few", khiến ông được các phi công chiến đấu Đồng minh đặt tên hiệu là “The Few”.

3. Bundestag: Quốc hội là cơ quan lập pháp nước Đức gồm hạ viện và thượng viện. Hạ viện Đức gọi là Bundestag. Thượng viện Đức gọi là Bundesrat.

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic - 16h42' ngày thứ Ba, 08/11/2011