Hiển thị các bài đăng có nhãn Hủ tục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hủ tục. Hiển thị tất cả bài đăng

Từ bao đời nay, người dân thôn Vĩnh Truyền, xã Văn Lang, huyện Hưng Hà vẫn lưu truyền câu chuyện đầy ly kỳ về một lời nguyền làm cả làng bao phen khiếp sợ.



Ao đình làng Chuộn

Ao đình làng Chuộn


Xuôi theo quốc lộ 39A từ thủ đô Hà Nội về tỉnh Thái Bình chừng 100km, chúng tôi có mặt tại thôn Vĩnh Truyền, xã Văn Lang, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để nghe các cụ cao niên trong làng kể lại câu chuyện về ngôi làng “ma ám”.


Thôn Vĩnh Truyền mà người dân trong xã, tổng xưa nay vẫn quen gọi nôm na là làng Chuộn. Người dân chủ yếu sống bằng nghề nông, quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, gắn với cây lúa, củ khoai, sống với nhau tình nghĩa chan hòa. Ấy vậy mà giữa cái chốn bình yên đấy lại chứa đựng những điều lạ lùng đến rợn tóc gáy.


Cho dù hơn hai trăm năm đã trôi qua nhưng dường như bao thế hệ trong làng vẫn tin nếu làm sai sẽ bị lời nguyền ám tới chết…


Sự báo ứng của lời nguyền


Những câu chuyện xung quanh lời nguyền độc vẫn còn đó, các thế hệ cứ rỉ tai nhau để tránh mắc phải lời nguyền mà rước họa vào thân. Thực hư lời nguyền ứng nghiệm với những người phải chết chưa có lời giải đáp nhưng những cái chết của người mà theo người dân trong làng cho là phạm vào lời nguyền ấy trùng hợp khiến người ta không thể không tin.


Để biết rõ hơn thực hư chúng tôi gặp những cụ già cao niên trong làng tìm hiểu về lời nguyền mà bao đời nay người đời vẫn khoác cho nó những chiếc áo thần thánh hay ma mị có vẻ hão huyền ấy.


Ông Vũ Văn Nhuế có lẽ trong số ít người còn biết về lời nguyền này. Năm nay đã ở cái tuổi ngoại bát thập nhưng ông vẫn còn minh mẫn lắm. Những câu chuyện lịch sử làng xã, ông nhớ như in. Thời gian trôi đi từ thế hệ này đến thế hệ khác. Những câu chuyện tưởng như vô chủ ấy chỉ có dịp khuấy động lên khi có ai vô tình nhắc lại hay một ai đó chết vì “lời nguyền”.


Câu chuyện ông Nhuế kể cho chúng tôi nghe có phần huyễn hoặc nhưng cái kết của lời nguyền đó lại là minh chứng cho lời ông kể là có cơ sở. Theo ông, lời nguyền đó bắt đầu chính từ một người khoa bảng trong làng. Cụ tên húy là Đinh Khắc Tú Bật, sinh ra vốn dòng khoa bảng. Chẳng ai còn nhớ rõ câu chuyện đó bắt đầu từ đâu nhưng ai cũng biết đích danh người ấy chính là cụ tổ dòng họ Đinh Khắc ở làng Ngận (Thượng Ngạn) vốn trước đây bản quán tại làng Chuộn này.


Ông Nhuế cho biết: “Thời phong kiến có lệ, khi làng có người đỗ đạt đến quan nghè, tú tài thì làng phải thiết cỗ, dong cờ trống lên huyện đón kiệu quan về. Các cụ trong làng kể lại, ngày đó dân làng nghèo khổ thiếu ăn liên miên do mất mùa, hạn hán. Người vợ bận con mọn nên không có tiền thiết cỗ rước ông về. Cụ đi về tới ngã ba Giá không thấy người làng Chuộn lên đón. Cụ ấy rút con dao nhọn trong người ném xuống giếng mà nói: làng Chuộn bạc tình lắm, từ nay không về làng Chuộn nữa. Nếu về đất này chết một đời cha, bảy ba đời con…”.


Câu nói tưởng chừng vô thưởng vô phạt suốt vài thế kỷ bỗng một ngày trở thành lời nguyền ám ảnh dân làng Chuộn. Thời gian trôi đi, câu chuyện về lời nguyền cứ lan truyền như gió. Mỗi một giai đoạn, một hoàn cảnh nó lại được thêm thắt, tam sao thất bản đi một chút để tới bây giờ ngót 200 năm có lẻ, nó được người dân khoác lên chiếc áo thần thánh.


Theo trí nhớ của ông Vũ Văn Nhuế, người cuối cùng của lớp tuổi bát niên ở làng Chuộn thì lời nguyền truyền kiếp này còn nhiều dị bản nữa. “Có người nói cụ Tú Bật đỗ quan về tới đầu làng không ai ra đón, cụ nghĩ người làng khinh mình ngày ấy nghèo khó, nay đỗ tú tài vẫn chỉ là người dân đen nên tức mình vứt bút nghiên xuống giếng làng mà thề. Do là câu nói cửa miệng, dân gian truyền khẩu mà không ai ghi chép lại nên mỗi nơi một khác”. Ông Nhuế cho biết thêm.


Ông Vũ Văn Nhuế không tin lời nguyền ngày ấy

Ông Vũ Văn Nhuế không tin lời nguyền ngày ấy


Những cái chết bí ẩn được cho là vì lời nguyền


Đem câu chuyện tới nhà ông Đinh Khắc Mấm, trưởng tộc họ Đinh Khắc làng Ngận, thôn Thượng Ngạn, xã Văn Lang, chúng tôi hiểu thêm nhiều điều. Ông Mấm là cháu đời thứ 6 của cụ Tú Bật. Dòng họ Đinh Khắc sang lập nghiệp tại đây đã hơn 10 đời. Dòng họ được đánh giá là nhiều người đỗ đạt nhất thời bấy giờ. Nhiều cụ đỗ quan nghè, tú tài, đồ khóa về làng mở lớp dạy nho.


Ông Mấm cho biết: “Từ bé tôi đã được mọi người trong họ, nhất là các cụ cao niên mỗi lần thanh minh, họp họ là các cụ lại kể cho nghe. Ngôi mộ cụ Tú Bật, người đã đặt ra lời nguyền, vẫn nằm ở khu mộ Đồng Quán tại làng Ngận. Nhờ ngôi mộ cụ mà con cháu phát đường học hành khoa cử. Chúng tôi là bậc hậu bối lại khác làng nên chuyện về lời nguyền báo ứng là chuyện có thật. Nhưng không ai dám chắc đó là do lời nguyền”.


Bao đời nay, người dân làng Chuộn vẫn rỉ tai nhau về những cái chết bất thường mà họ cho là liên quan tới lời nguyền. Nhiều người dân tin vào chuyện thần thánh quả quyết là có sự ứng báo khi trong làng có người phạm phải lời nguyền. Người ta đồn đoán nhau về những người làm quan, làm tướng. Cứ leo lên đến chức lãnh đạo là chết, những cái chết trùng lặp đến lạ lùng về thời gian được bổ nhiệm chức vụ.


Như trường hợp cái chết của ông Đinh Văn Cừ cũng bất thường. Ông chết do bị cảm trong thời gian ông vừa được bổ nhiệm chức chủ tịch xã Văn Lang. Trời tháng 6 nắng như đổ lửa, ông Cừ có việc lên huyện. Khi về qua ao đình thấy lũ trẻ đang tắm, ông xuống tắm cùng để giải tỏa cái nóng nực. Đêm đó ông kêu đau đầu, khó thở. Người nhà đưa lên viện được một ngày thì ông vĩnh viễn ra đi mang theo lời nguyền oan nghiệp. Cái chết của ông Cừ ngày ấy là câu chuyện bàn tán từ đầu làng đến cuối xóm. Người ta bảo ông chết vì lên làm lãnh đạo, phạm vào lời nguyền truyền kiếp (?).


Ông Nhuế kể cho chúng tôi về cái chết của ông Truyền, người con quê hương làng Chuộn thoát ly lên thành phố Hà Nội. Cái chết của ông Truyền một lần nữa làm cả làng một phen sợ hãi khi nghĩ tới lời nguyền đó. Ông Truyền chết khi đang giữ chức phó tổng giám đốc một công ty đóng tàu lớn ở Hải Phòng.


Đang chờ quyết định bổ nhiệm làm tổng giám đốc thì ông ngã bệnh, vài tháng sau ông qua đời. Những cái chết bất thường đối với người dân làng Chuộn càng cho thấy sự nguy hiểm khi đùa giỡn với lời nguyền ấy. Những cái chết trẻ đương độ thăng tiến làm rung động làng quê bao phen.


Người thứ ba “dính” phải lời nguyền là ông Vũ Văn Hóa, giám đốc một công ty xây dựng. Cái chết cũng tương tự như vậy. Lần này từ người mê tín cho tới người coi đó là sự “vớ vẩn” cũng rùng mình. Còn một người may mắn “thoát chết” khi từ chối làm Bí thư tỉnh ủy Lai Châu.


Ông Phạm Văn Hương, gốc người làng Chuộn khi đó đang giữ chức Phó bí thư Tỉnh ủy Lai Châu, được mọi người tín nhiệm lên giữ chức bí thư nhưng ông đã “từ chối khéo” bởi bệnh tật. Câu chuyện của ông từ Lai Châu cũng được người dân nơi quê nhà bàn tán đình đám. Người bảo ông sợ bị lời nguyền ám, người bảo ông khôn khéo biết lượng sức mình để an toàn tính mạng.


Theo ông Nhuế, các cụ ngày xưa kể lại, làng Chuộn có thế đất đẹp, bốn phương có long, ly, quy, phụng chầu, là đất học nhưng do con đường 223 chạy cắt ngang địa thế làng Chuộn nên đường công danh của con cháu bị cản trở. “Cứ có người đỗ đạt cao là y như rằng không chết non thì cũng tụt dốc. Truyền thuyết là thế, các cụ bảo thế chứ còn lớp trẻ bây giờ chúng không tin vào điều ấy nữa”. Ông Nhuế tâm sự.


Để tìm rõ thực hư của câu chuyện chúng tôi tiếp tục tìm gặp ông Đinh Văn Phức, Phó chủ tịch UBND xã Văn Lang, thì ông khẳng định: “Chuyện cụ Tú Bật được về bổ nhiệm làm quan ở làng Chuộn là có thật. Thế nhưng chỉ dựa vào những lời nói nóng giận của cụ khi ấy mà dân làng Chuộn xem đó là một lời nguyền thì thật hoang tưởng, mộng mị.


Đến nay những cái chết của người làng chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên và nguyên nhân về cái chết đó cũng đã được sáng tỏ. Người chết do ung thư, người do bị cảm… những cái chết đều do bệnh tật mang đến chứ không phải do lời nguyền gì cả. Lời nguyền kia chỉ là những lời thêu dệt từ câu nói nhất thời mà thôi. Chính sự cả tin của người dân đã tạo cơ hội cho những kẻ mê tín, buôn thần bán thánh có cơ hội kiếm tiền nhờ vào bói toán”.


(BDV)



Chuyện ly kỳ về ngôi làng bị "ám do lời nguyền"

Mọi người, đặc biệt là người trẻ, cần sáng suốt nhìn nhận mọi vấn đề, không nên quá kỹ tính kiêng khem, mê tín. Sinh ra một tập tục, sự kiêng kỵ không khó nhưng bỏ đi ý thức về chúng thì không đơn giản chút nào.



Tháng cô hồn là một cụm từ khiến rất nhiều người dị ứng, không chỉ có dân kinh doanh mà ngay đến công chức, sinh viên cũng tỏ ra ái ngại. Rất nhiều lời truyền tai “không nên làm cái này cái kia” khiến nhiều người phải rợn da gà.


Chúng tôi có cuộc trao đổi với GS, TS Phạm Đức Dương (chuyên gia về Ngôn ngữ dân tộc và Đông Nam Á học) về nguồn gốc tháng cô hồn cũng như cách giải thoát sự lo âu của mỗi người.


GS.TS Phạm Đức Dương

GS.TS Phạm Đức Dương


Thưa GS Phạm Đức Dương, xin giáo sư cho biết nguồn gốc của tháng cô hồn được lưu truyền trong dân gian?


Nói về nguồn gốc của tháng cô hồn trong dân gian, truyền thuyết có kể lại rằng, vào ngày này trước đây, Bồ tát Mục Kiền Liên đã cứu mẹ ra khỏi kiếp quỷ đói. Chính từ truyền thuyết này mà ngày lễ Vu Lan cũng được sinh ra, trở thành ngày để tưởng nhớ công ơn sinh thành, giáo dưỡng của cha mẹ.


Chuyện kể rằng, Bồ Tát Mục Kiền Liên vốn là một vị cao tăng thần thông quảng đại, hiếu nghĩa vô cùng. Khi mẹ của ông là bà Thanh Đề qua đời, ông nhớ mẹ da diết và cố gắng đi tìm mẹ.


Vì khi còn sống mẹ ông gây nhiều nghiệp ác nên khi chết đi, bà phải làm quỷ đói và bị hành hạ rất thương tâm. Thương mẹ, ông đem cơm đến dâng mẹ, tuy nhiên cứ khi nào đồ ăn được dâng tới tận miệng thì chúng lại hóa thành than lửa, mẹ ông không tài nào ăn được.


Bồ tát khẩn thiết kêu van xin Phật tìm cách cứu mẹ, lúc đó ông được biết ngày Rằm tháng 7 là ngày thích hợp để mang đồ cho mẹ ăn và ông đã cứu mẹ thành công. Và đó chính là sự tích của lễ Vu Lan. Lễ Vu lan Rằm tháng 7 là một trong những ngày trọng đại và thiêng liêng nhất của Phật giáo.


Không chỉ Việt Nam mà rất nhiều nước thuộc châu Á coi tháng 7 âm lịch và đặc biệt là ngày Rằm tháng 7 là ngày chỉ dành cho người cõi âm, người đã chết, chết oan uổng, chết bất đắc kỳ tử, không có người thờ cúng.


Người ta cho rằng, trong suốt tháng này những vong hồn từ dưới địa ngục sẽ vảng vất, xuất hiện ngay tại dương gian. Rằm tháng 7 hay còn gọi là lễ Xá tội vong nhân trùng với lễ Vu Lan, báo hiếu cha mẹ.


Bản chất của ngày Rằm này rất nhân bản, là lòng yêu thương con người với con người. Ngày có ý nghĩa mọi người tưởng nhớ, tỏ lòng biết ơn với tổ tiên, nó giống như lễ Vu Lan, những người con hướng về mẹ vậy.


Nhiều người truyền miệng nhau rằng vào ngày Rằm này thì những linh hồn người chết ở dưới địa ngục sẽ được giảm tội, cửa địa ngục sẽ mở để cho họ về thăm người thân.


Hành động của mọi người rất nhân văn được thể hiện là bên cạnh việc thắp hương thờ cúng tổ tiên, rất nhiều gia đình còn cúng cô hồn, họ cầu nguyện cho những linh hồn sa cơ, những vong linh ẩn dật thân cô thế cô, không nơi nương tựa được siêu thoát.


Nhắc tới tháng cô hồn, không ít người cho rằng đó là khoảng thời gian đen đủi, làm gì thua nấy, chơi cũng khó, làm chẳng xong thậm chí sức khỏe bị yếu đi nhiều… Giáo sư nghĩ sao về quan niệm này?


Vì mục đích rất nhân văn như đã nêu trên nên không thể nói rằng thời điểm này là đen đủi, xui xẻo như nhiều người tâm niệm. Đúng là hiện nay có không ít người quan niệm rằng tháng cô hồn này đen đủi, không nên dựng nhà, sửa cửa, đám cưới… Tôi cho rằng những quan niệm này không đúng và hoàn toàn không có cơ sở.


Vì sự hiểu sai nên có không ít người thất bại trong công việc, rất dễ hiểu đó là khi tâm lý họ không cố gắng, ái ngại thì thành công lại khó có thể với tới. Có không ít người cho rằng do quy luật thiên nhiên, đây là tháng ngâu, mưa gió thất thường, đúng lúc đó tinh thần con người không sáng suốt, hành động sai ảnh hưởng tới cuộc sống, luận điểm này không sai và có thể chấp nhận được song chỉ đúng với thời tiết miền Bắc.


Hiện nay, mọi người đang truyền tay nhau về 18 điều cấm kỵ, nhiều điều nghe rất đáng sợ ví dụ như không để chuông gió trước đầu giường dễ thu hút ma quỷ tới nhà quấy nhiễu, đi đêm không được gọi tên thật, không được chụp ảnh buổi tối bởi dễ chụp… cùng ma. Người trẻ đứng trước “lời răn” này họ sợ vô cùng, ông nghĩ thế nào về tâm lý của họ?


Có kiêng có lành, nhiều người nghĩ như vậy và thực hiện theo, họ thấy khi thực hiện những điều đó họ thấy yên tâm. Thực tế, việc kiêng kỵ thì ở dân tộc nào cũng có, đất nước nào cũng có dù là nước tiên tiến, hiện đại nhất. Kiêng ở một góc độ nào đó nó đã giúp tâm lý con người được vững tâm.


Từ xưa đến nay, trong văn hóa tâm linh của hầu hết các dân tộc trên thế giới đều có những tập tục kiêng kỵ nhằm có được may mắn, tránh vận xui rủi. Tuy nhiên, việc kiêng kỵ cũng chỉ mang tính chất tương đối. Mọi người có thể có được đức tin song không nên sa đà vào mê tín. Nhiều khi chính sự sa đà sẽ khiến họ vuột mất cơ hội tốt.


Ông có lời khuyên gì dành cho mọi người trước vấn nạn mê tín thái quá này?


Thực ra ngày nào, tháng nào cũng như nhau, nếu chúng ta sống bằng tâm, đức, không lừa lọc dối trá thì không cần thiết phải lo lắng, sợ hãi thời điểm này. Mọi người, đặc biệt là người trẻ, cần sáng suốt nhìn nhận mọi vấn đề, không nên quá kỹ tính kiêng khem, mê tín. Sinh ra một tập tục, sự kiêng kỵ không khó nhưng bỏ đi ý thức về chúng thì không đơn giản chút nào.


Xin cảm ơn giáo sư!


(BIFN)



Tại sao tháng cô hồn lại gặp điều xui?