Hiển thị các bài đăng có nhãn Vu Lan Báo Hiếu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vu Lan Báo Hiếu. Hiển thị tất cả bài đăng

Đức Phật – con người toàn diện, không chỉ về mặt trí tuệ và đức hạnh mà còn về mặt hình thể.



Các kinh điển Nam truyền cũng như Bắc truyền đều có nói đến 32 tướng tốt của đức Phật một cách đầy đủ, những tướng này được phát hiện lúc mới đản sanh, do các vị tướng sư xác định.


Sau này Đức Phật cũng xác nhận có đủ 32 tướng qua các kinh lưu truyền. Theo quan điểm tướng pháp Ấn Độ cổ, ai có đủ 32 tướng tốt thì sẽ làm vua thống lãnh thiên hạ, nếu xuất gia thì sẽ thành Phật. Sự kiện thái tử Tất Đạt Đa có đủ 32 tướng đã báo hiệu Ngài không phải là một người thường. Điều đó trở thành hiện thực khi Ngài xuất gia tìm đạo và đã thành tựu được quả vị Phật Đà.


Thế nào là tướng tốt?


Tướng tốt theo quan điểm tướng pháp Á Đông không phải là quan niệm về cái đẹp thẩm mỹ, mà chính là cái đẹp của đức hạnh biểu hiện qua hình thể. Đời sống sung túc, tốt đẹp của một người được biểu hiện qua hình tướng đắc cách hay không, những tướng tốt này lại có nguồn gốc sâu xa liên quan đến phúc đức của ông bà cha mẹ hay của chính mình trong quá khứ. Điều này được đúc kết dựa theo kinh nghiệm và quan sát thực tế mà rút ra được những quy luật về phương pháp.


Đối với Phật giáo, thân tướng đắc cách tốt đẹp, biểu hiện đời sống tốt đẹp, qua lý thuyết chánh báo đi đôi với y báo. Tất cả những điều kiện tốt đẹp đó đều do công đức tích lũy trong quá khứ, theo quy luật nhân quả: gieo nhân nào gặt quả nấy. Đức Phật có đủ 32 tướng tốt có nghĩa là Ngài đã tích lũy vô lượng công đức trong nhiều kiếp, này thừa hướng kết quả của những công đức đó mà thôi.


Quan niệm về tướng tốt và xấu như thế nào, theo tiêu chuẩn nào, thì thuộc vào kinh nghiệm thực tế và truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc, của mỗi đất nước. Có những tướng theo quan điểm Ấn Độ là tốt nhưng đối với chúng ta thì xấu hoặc kì dị. Do đó cần phải rộng lượng khi nhận định về tướng pháp.


Những tướng tốt của đức Phật


Ba mươi hai tướng tốt của đức Phật được đề cập, khá nhiều trong kinh, trong Nam tạng cũng như Bắc tạng như: kinh Sơ Đại Bổn Duyên (Trường A Hàm), kinh Tâm Thập Nhị Tướng (Trung A Hàm), kinh Đại Bổn (Trường Bộ), kinh Tướng (Trường Bộ), kinh Tập, kinh Tiểu Bộ… và một số rải rác trong kinh tạng Đại Thừa…


Tham khảo 32 tướng tốt của đức Phật qua các kinh trên, có khá nhiều sự khác nhau, có những tướng kinh này có, kinh kia không và ngược lại. Có một số tướng quan điểm khác nhau. Như kinh Sơ Đại Bổn Duyên có tướng chữ “vạn” ở ngực nhưng các kinh khác không có. Kinh Tướng (Trường Bộ) không có tướng nhục kế như hầu hết các kinh khác. Mặt khác, cùng là kinh Nam truyền vẫn có những quan điểm khác nhau, Bắc truyền cũng vậy. Có những tướng sai biệt lệch lạc khá xa như tướng 18 trong Sơ Đại Bổn Duyên là tướng 7 lỗ trong người đều đầy đặn bằng phẳng. Trong kinh Tướng thì nói 7 chỗ trong người, tướng thứ 3 trong Sơ Đại Bổn Duyên nói có màng lưới mỏng giữa kẻ chân tay như chân ngỗng chúa. Nhưng kinh Tam Thập Nhị Tướng thì cho là như chim nhạn. Tạng Pàli kinh Lakkhana thì nói lòng bàn tay bàn chân có chỉ giăng như lưới…


Từ những sai biệt đó chúng ta khó mà xác định kinh nào là nói đúng và đủ 32 tướng, nếu ngây thơ tin vào 32 tướng của riêng một kinh nào thì ta khó mà hình dung nổi hình dáng của đức Phật như thế nào.


Mặc dù gặp những khó khăn như trên, nhưng qua những tướng mà nhiều kinh đều nói giống nhau, qua thực tế hình tướng đức Phật đang lưu truyền, chúng ta có thể rút ra được những tướng tốt của đức Phật như sau:


1. Lòng bàn chân bằng phẳng.


2. Dưới lòng bàn chân có hình bánh xe ngàn căm.


3. Gót chân đầy đặn.


4. Ngón tay, ngón chân thon dài.


5. Tay chân mềm mại.


6. Đứng thẳng tay dài đến gối.


7. Lông màu xanh biếc và xoáy tròn về bên phải.


8. Da mịn màng trơn láng bụi không bám.


9. Da màu vàng như màu vàng y.


10. Tướng mã âm tàng.


11. Bụng thon.


12. Ngực nở nang.


13. thân hình cao lớn.


14. Có đủ 40 cái răng.


15. Răng bằng và đều khít.


16. Răng trắng và bóng.


17. Tiếng nói trong trẻo vang xa.


18. Ngực có chữ “vạn”.


19. Vai ngang và đều đặn.


20. Lưỡi dài và rộng.


21. Mắt xanh và đẹp.


22. Có một sợi lông trắng giữa 2 mày xoáy tròn xoay về bên phải.


23. Đỉnh đầu có nhục kế.


Một số tướng tốt ở trên phù hợp với quan điểm tướng tốt của Trung Hoa và Việt Nam. Một số tướng tốt còn lại có phần sai biệt giữa các kinh, chúng tôi không dẫn ra đây.


2


Biểu tượng của một số tướng tốt


Khảo sát về 32 tướng tốt của một bậc đại nhân theo quan điểm Ấn Độ, có khá nhiều loại tướng pháp mang ý nghĩa biểu tượng, có ý nghĩa tướng pháp đích thực. Chính đức Phật cũng sử dụng ý niệm và niềm tin vào tướng tốt của mọi người để truyền đạt lý tưởng “Diệt trừ điều ác, tăng trưởng điều thiện”. Các kinh Lakkhana Sutra, kinh Tam Thập Nhị Tướng, đều có lý giải nguyên nhân, do có công đức gì mà được tướng tốt đó, giảng giải khá chi tiết, ví dụ:


1) Tướng nhục kế (Usnissa): Tướng này là một cục thịt nổi trên đỉnh đầu, do công đức hiếu kính cha mẹ, kính thuận sư trưởng và các bậc trưởng thượng mà được thành tựu. Quan điểm của Đại thừa thì cho rằng tướng này biểu thị cho trí tuệ của Phật, từ tướng nhục kế này còn triển khai thêm tướng phụ là Vô kiến đảnh tướng, là tướng nằm trên đỉnh đầu nhưng không thể thấy được bằng mắt thường, chỉ có tuệ nhãn mới thấy. Theo diễn giải của các nhà Phật học Đại thừa thì dưới cái nhìn của tuệ nhãn, tướng này có hình tướng bánh xa ngàn căm, có nơi nói như hoa sen ngàn cánh, biểu thị cho trí tuệ, qua tướng này có thể phân biệt được công đức tu hành nhiều hay ít.


2) Tướng chữ “vạn” (Svastika): Trong các kinh tạng Pàli không thấy nói tướng chữ “vạn”, các bộ A Hàm chỉ có kinh Sơ Đại Bổn Duyên nói đến, có thể tướng này được thêm vào về sau, cho nên không nói do tạo công đức gì mà có. Có 2 quan điểm giải thích về tướng chữ “vạn” như sau:


1. Chữ “vạn” có nghĩa là Kiết tường, là một loại chữ linh thiêng của Ấn Độ, chữ linh này có khả năng đem đến mọi điều tốt lành may mắn (Từ điển PH, ĐTC)


2. Chữ “vạn” biểu thị công đức vô lượng, từ bi vô lượng và trí tuệ vô lượng của Phật. Đó là biểu phù hiệu chứ không phải chữ viết. (TĐ PHVN, TMC). Có lẽ lúc đầu nó là một linh tự, về sau nghĩa gốc của nó biến đổi thành ý nghĩa biểu tượng cho sự viên mãn tâm, trí và đức. Hai tướng này đã trở thành biểu tượng gắn liền với các tượng Phật đang thờ hiện nay, đã được nhân dân hóa.


Ngoài hai tướng trên, một số kinh còn cho rằng đức Phật còn có tướng hào quang tỏa ra chung quanh thân thể khoảng một tầm. Tướng này không thấy nói tới trong các kinh mà chúng tôi đã trích dẫn, mà đề cập trong Luận tạng Pàli Katha-Vatthu.


3) Tướng lưỡi rộng dài (Pahutaiivaho hoti) được diễn giải là lưỡi của đức Phật có thể liếm đụng tai được… Tướng này do công đức luôn nói lời chân thật diệu dàng, không thóa mạ người… mà có tướng lưỡi rộng dài. Trong kinh Di Đà có nói “Chư Phật mười phương le lưỡi rộng dài che cả tam thiên Đại Thiên thế giới mà nói lời thành thật rằng…” Do đó tướng lưỡi rộng dài biểu tượng cho tính ngay thật nói năng đúng mức, không xảo trá.


Trên trình bày một số tướng mang tính biểu tượng tiêu biểu, trong phạm vi bài này không thể đề cập nhiều hơn. Tuy nhiên cũng đủ cho ta thấy ngoài các nghĩa thông thường, các tướng tốt còn có ý nghĩa sâu xa hơn và cao đẹp hơn.


Vẻ đẹp hình thể của đức Phật


Nếu bỏ qua một bên tướng tốt có tính cách bất định do các bộ phái ghi nhớ không chính xác, hoặc thêm bớt tùy tiện, bỏ qua một bên các tướng tốt có tính chất biểu tượng tôn giáo và sự tôn sùng của các đệ tử, ta có thể hình dung đức Phật là một đấng nam nhi cao ráo đẹp đẽ, cân đối, oai nghiêm thay đổi thái độ, đón tiếp Ngài nồng hậu, khi Ngài lên tiếng thì mọi người đều bị chinh phục hoàn toàn. Theo các kinh điển, hình tướng đẹp đẽ của Ngài đã đóng góp rất nhiều trên con đường hoằng hóa. Thanh niêm Vakkali con của một vị trưởng giả, đến nghe Phật thuyết pháp, nhìn thấy thân tướng đẹp đẽ của Ngài, Vakkali không nghe gì cả và chỉ chiêm ngưỡng thân tướng của Phật mà thôi, sau đó xin xuất gia để được gần Phật. Có lần đức Phật buộc Vakkali phải ở cách xa tịnh thất của Ngài, Vakkali buồn rầu, thất vọng và muốn tự tử. Nhân đó đức Phật giảng giải về sự vô thường của xác thân tứ đại, nhờ đó Vakkali giác ngộ. Quần chúng cũng vậy, họ ái mộ và đi theo Ngài chưa hẳn nhờ vào tài thuyết pháp của Ngài, mà còn nhờ vào thân tướng và phong cách đẹp đẽ siêu tuyệt của Ngài.


32 tướng tốt của đức Phật được các kinh tạng Nam truyền và Bắc truyền nói đến rất phong phú. Điều đó khẳng định nét đặc thù trong đức tánh và đức tướng của đức Phật và cũng đem lại niềm hứng khởi cho các nghệ nhân cũng như các đệ tử về sau. Càng ngày hình ảnh của đức Phật được tái tạo, được tô điểm thêm do lòng kính trọng vô biên của đệ tử, hình ảnh của Ngài dần dần được siêu nhiên hóa. Thời kỳ Phật giáo Đại thừa phát triển, thân tướng của Ngài trở thành đối tượng triết học, hay trở thành biểu tượng của lý tưởng qua thuyết Tam thân Phật: Pháp thân – Báo thân – Ứng thân.


Dù cho thân tướng của Ngài được quan niệm như một người thường hay bậc thánh siêu nhiên, thì sự kính ngưỡng, lòng thành tín của con người đối với Ngài không thay đổi. Bởi lẽ ai cũng thấy được rằng giá trị của đức Phật không phải ở thân tướng mà ở sự giải thoát mà giáo lý của Ngài đem lại.


Con đường dẫn đến chân lý đã được mở ra, niềm hạnh phúc, sự giải thoát sẽ đến với những ai nỗ lực vươn tới, qua thực nghiệm chứ không phải qua sắc tướng như kinh Kim Cang đã nói: Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.


(BNĐT)



Những tướng tốt kỳ lạ của Đức Phật

Mọi người, đặc biệt là người trẻ, cần sáng suốt nhìn nhận mọi vấn đề, không nên quá kỹ tính kiêng khem, mê tín. Sinh ra một tập tục, sự kiêng kỵ không khó nhưng bỏ đi ý thức về chúng thì không đơn giản chút nào.



Tháng cô hồn là một cụm từ khiến rất nhiều người dị ứng, không chỉ có dân kinh doanh mà ngay đến công chức, sinh viên cũng tỏ ra ái ngại. Rất nhiều lời truyền tai “không nên làm cái này cái kia” khiến nhiều người phải rợn da gà.


Chúng tôi có cuộc trao đổi với GS, TS Phạm Đức Dương (chuyên gia về Ngôn ngữ dân tộc và Đông Nam Á học) về nguồn gốc tháng cô hồn cũng như cách giải thoát sự lo âu của mỗi người.


GS.TS Phạm Đức Dương

GS.TS Phạm Đức Dương


Thưa GS Phạm Đức Dương, xin giáo sư cho biết nguồn gốc của tháng cô hồn được lưu truyền trong dân gian?


Nói về nguồn gốc của tháng cô hồn trong dân gian, truyền thuyết có kể lại rằng, vào ngày này trước đây, Bồ tát Mục Kiền Liên đã cứu mẹ ra khỏi kiếp quỷ đói. Chính từ truyền thuyết này mà ngày lễ Vu Lan cũng được sinh ra, trở thành ngày để tưởng nhớ công ơn sinh thành, giáo dưỡng của cha mẹ.


Chuyện kể rằng, Bồ Tát Mục Kiền Liên vốn là một vị cao tăng thần thông quảng đại, hiếu nghĩa vô cùng. Khi mẹ của ông là bà Thanh Đề qua đời, ông nhớ mẹ da diết và cố gắng đi tìm mẹ.


Vì khi còn sống mẹ ông gây nhiều nghiệp ác nên khi chết đi, bà phải làm quỷ đói và bị hành hạ rất thương tâm. Thương mẹ, ông đem cơm đến dâng mẹ, tuy nhiên cứ khi nào đồ ăn được dâng tới tận miệng thì chúng lại hóa thành than lửa, mẹ ông không tài nào ăn được.


Bồ tát khẩn thiết kêu van xin Phật tìm cách cứu mẹ, lúc đó ông được biết ngày Rằm tháng 7 là ngày thích hợp để mang đồ cho mẹ ăn và ông đã cứu mẹ thành công. Và đó chính là sự tích của lễ Vu Lan. Lễ Vu lan Rằm tháng 7 là một trong những ngày trọng đại và thiêng liêng nhất của Phật giáo.


Không chỉ Việt Nam mà rất nhiều nước thuộc châu Á coi tháng 7 âm lịch và đặc biệt là ngày Rằm tháng 7 là ngày chỉ dành cho người cõi âm, người đã chết, chết oan uổng, chết bất đắc kỳ tử, không có người thờ cúng.


Người ta cho rằng, trong suốt tháng này những vong hồn từ dưới địa ngục sẽ vảng vất, xuất hiện ngay tại dương gian. Rằm tháng 7 hay còn gọi là lễ Xá tội vong nhân trùng với lễ Vu Lan, báo hiếu cha mẹ.


Bản chất của ngày Rằm này rất nhân bản, là lòng yêu thương con người với con người. Ngày có ý nghĩa mọi người tưởng nhớ, tỏ lòng biết ơn với tổ tiên, nó giống như lễ Vu Lan, những người con hướng về mẹ vậy.


Nhiều người truyền miệng nhau rằng vào ngày Rằm này thì những linh hồn người chết ở dưới địa ngục sẽ được giảm tội, cửa địa ngục sẽ mở để cho họ về thăm người thân.


Hành động của mọi người rất nhân văn được thể hiện là bên cạnh việc thắp hương thờ cúng tổ tiên, rất nhiều gia đình còn cúng cô hồn, họ cầu nguyện cho những linh hồn sa cơ, những vong linh ẩn dật thân cô thế cô, không nơi nương tựa được siêu thoát.


Nhắc tới tháng cô hồn, không ít người cho rằng đó là khoảng thời gian đen đủi, làm gì thua nấy, chơi cũng khó, làm chẳng xong thậm chí sức khỏe bị yếu đi nhiều… Giáo sư nghĩ sao về quan niệm này?


Vì mục đích rất nhân văn như đã nêu trên nên không thể nói rằng thời điểm này là đen đủi, xui xẻo như nhiều người tâm niệm. Đúng là hiện nay có không ít người quan niệm rằng tháng cô hồn này đen đủi, không nên dựng nhà, sửa cửa, đám cưới… Tôi cho rằng những quan niệm này không đúng và hoàn toàn không có cơ sở.


Vì sự hiểu sai nên có không ít người thất bại trong công việc, rất dễ hiểu đó là khi tâm lý họ không cố gắng, ái ngại thì thành công lại khó có thể với tới. Có không ít người cho rằng do quy luật thiên nhiên, đây là tháng ngâu, mưa gió thất thường, đúng lúc đó tinh thần con người không sáng suốt, hành động sai ảnh hưởng tới cuộc sống, luận điểm này không sai và có thể chấp nhận được song chỉ đúng với thời tiết miền Bắc.


Hiện nay, mọi người đang truyền tay nhau về 18 điều cấm kỵ, nhiều điều nghe rất đáng sợ ví dụ như không để chuông gió trước đầu giường dễ thu hút ma quỷ tới nhà quấy nhiễu, đi đêm không được gọi tên thật, không được chụp ảnh buổi tối bởi dễ chụp… cùng ma. Người trẻ đứng trước “lời răn” này họ sợ vô cùng, ông nghĩ thế nào về tâm lý của họ?


Có kiêng có lành, nhiều người nghĩ như vậy và thực hiện theo, họ thấy khi thực hiện những điều đó họ thấy yên tâm. Thực tế, việc kiêng kỵ thì ở dân tộc nào cũng có, đất nước nào cũng có dù là nước tiên tiến, hiện đại nhất. Kiêng ở một góc độ nào đó nó đã giúp tâm lý con người được vững tâm.


Từ xưa đến nay, trong văn hóa tâm linh của hầu hết các dân tộc trên thế giới đều có những tập tục kiêng kỵ nhằm có được may mắn, tránh vận xui rủi. Tuy nhiên, việc kiêng kỵ cũng chỉ mang tính chất tương đối. Mọi người có thể có được đức tin song không nên sa đà vào mê tín. Nhiều khi chính sự sa đà sẽ khiến họ vuột mất cơ hội tốt.


Ông có lời khuyên gì dành cho mọi người trước vấn nạn mê tín thái quá này?


Thực ra ngày nào, tháng nào cũng như nhau, nếu chúng ta sống bằng tâm, đức, không lừa lọc dối trá thì không cần thiết phải lo lắng, sợ hãi thời điểm này. Mọi người, đặc biệt là người trẻ, cần sáng suốt nhìn nhận mọi vấn đề, không nên quá kỹ tính kiêng khem, mê tín. Sinh ra một tập tục, sự kiêng kỵ không khó nhưng bỏ đi ý thức về chúng thì không đơn giản chút nào.


Xin cảm ơn giáo sư!


(BIFN)



Tại sao tháng cô hồn lại gặp điều xui?

Từ xa xưa, rằm tháng 7 được gọi là ngày xá tội vong nhân và cũng là ngày các cô hồn được người trần cúng lễ. Bởi vậy, trên dương thế, mọi gia đình đều làm cỗ cúng gia tiên đồng thời đốt vàng mã và phóng sinh.



Song, đi cùng mặt trái thị trường, việc đốt vàng mã và phóng sinh đã bị người ta lạm dụng, đi quá giới hạn tâm linh.


Tiền tỉ bay theo tàn tro


Mùa lễ Vu Lan ở Hà Nội năm nay bắt đầu từ rất sớm. Ngay những ngày đầu tháng 7 âm lịch, trên các đường phố đã xuất hiện nhiều gánh hàng rong bán quần áo, mũ mão thần linh. Con phố Hàng Mã, Lương Văn Can… oằn mình chứa bao thứ hàng mã và đón những dòng người đến đông như đi hội.


So với năm trước, năm nay, giá cả các mặt hàng vàng mã đều đắt hơn gấp 2-3 lần bởi giá nguyên vật liệu (giấy, phẩm), công vận chuyển tăng (xăng, dầu tăng). Ví như năm trước: một chiếc ti vi giấy có giá 20 nghìn đồng thì nay là 45 nghìn đồng.


 


Người dân không tiếc tiền để sắm vàng mã trong các dịp lễ, rằm.

Người dân không tiếc tiền để sắm vàng mã trong các dịp lễ, rằm.


Tính sơ sơ, nếu sắm đủ bộ lễ dành cho người đã khuất: quần áo, nón mũ, dép guốc, tiền vàng, ti vi, xe máy, nhà cửa… thì phải mất 300- 400 nghìn đồng.


Có không ít người bỏ tiền ra chơi trội, muốn người đã khuất phải được “hưởng thụ” những đồ đạc mà trần gian đang thịnh hành. Đa phần họ không bao giờ mua ở những gánh hàng rong, hay những quầy trong chợ mà vào hẳn nơi sản xuất đặt cho đúng ý nguyện.


Họ có hàng ngàn lí do bỏ tiền triệu mà mình dày công kiếm được để rước những đồ rởm hóa cho người đã khuất. Bà Giang ở phố Lãn Ông đã về “lò” vàng mã ở Yên Hòa tìm đặt cho ông chồng già quá cố chiếc ô tô thể thao Chevrolet Corvette Z06 hiện rất “hot” trên thị trường với kích thước, kiểu dáng y như xe thật.


Theo bà thì lúc ông còn sống gia đình nghèo khó, xe máy chẳng có mà đi. Nay ông thác, bà muốn ông “nở mặt, nở mày với ông bà tiên tổ”, tậu hẳn xe trị giá 1,5 triệu đồng cho ông “đáng mặt anh tài”! Và bà cũng không quên “thửa” cho ông chiếc bằng lái xe mang tên ông có dấu triện đỏ để dưới âm ty, ông khỏi bị cảnh sát tuýt còi (!).


Một chị có cậu con trai chưa qua tuổi đôi mươi đã bị Diêm Vương lôi đi khi bị dính AIDS. Lễ Vu Lan cũng là ngày con trai chị tổ chức “sinh nhật” đầu tiên dưới suối vàng. Theo chị tâm sự thì con trai chị có tính lăng nhăng, chơi bời, trác táng.


Chị không muốn ở dưới địa ngục, con bị mắc AIDS một lần nữa nên đã quyết định tặng con trai mình… vài chục gói bao cao su bằng giấy!


Không phải kẻ lắm tiền nhiều của mới chơi sang, mà có người nhà nghèo nhưng vẫn đi vay mượn vài trăm nghìn của người thân cố sắm những vật dụng đắt tiền đốt cho người chết.


Tất cả thành tro bụi để rồi ngày hôm sau họ phải chắt chiu từng đồng bạc lẻ trả nợ. Nếu biết như vậy, người âm chỉ còn biết khóc cho những việc làm ngớ ngẩn của người trần thế.


Những năm qua, các phương tiện thông tin đại chúng đã phản ánh rất nhiều về vấn nạn này. Tệ đốt vàng mã đã gây ra sự lãng phí lớn về mặt kinh tế cho xã hội. Năm nay, giá vàng mã cao hơn năm ngoái do giá nguyên liệu tăng chóng mặt.


Tuy vậy, sức tiêu thụ mặt hàng này không hề giảm, đồng nghĩa với việc có hàng trăm tỉ đồng sẽ bị thiêu rụi trong dịp rằm tháng bẩy này. Nếu trung bình mỗi gia đình đốt 20 nghìn tiền vàng mã, với 13 triệu gia đình thì chỉ một mùa lễ Vu Lan, nước ta đốt khoảng 260 tỷ đồng. Món tiền quá lớn đối với một nước nghèo.


Thảm cảnh chim bị hành hạ vì…. phóng sinh


Không chỉ đua nhau đốt vàng mã tràn lan, nhiều người còn lạm dụng phóng sinh. Tại dọc đường Hoàng Hoa Thám, Lạc Long Quân… những ngày rằm tháng 7 đông đúc hơn bao giờ hết. Ngoài các loại chim trời như bồ câu, khuyên, chào mào, chích chòe, sáo, vẹt, yểng… có nhiều loại quí hiếm như: hỏa tiễn, quế lâm, khướu…được bày bán la liệt, công khai.


Phần lớn đây là chim bẫy được ở các cánh rừng từ khắp nơi như Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Ninh Bình, Thanh Hóa… được dồn về Hà Nội. Để kêu gọi lòng từ bi để kiếm tiền, nhiều ông chủ chim còn không ngại treo bảng mời gọi: Số phận của những con vật này chính là số phận của các bạn, các bạn hãy tranh thủ làm việc thiện (?!)


Phóng sinh hay hành hạ chim?

Phóng sinh hay hành hạ chim?


Rằm tháng 7 chính là dịp để các chủ hàng bán chim được dịp hốt bạc. Người đàn ông bán chim khoe: “Những ngày này, trung bình cửa hàng tôi bán hàng trăm con chim các loại, như chủ yếu là bồ câu, chim én, chim sẻ giá từ 20-100 nghìn/ tùy loại.


Nhưng có nhiều đại gia mua hẳn khướu bạc má, họa mi, cu gay có giá khoảng 500 -700 nghìn đồng/con ”. Cả những con ốm đau, dặt dẹo, tôi đều “đẩy” được hết”.


Một ông chủ chim khác có gần hai chục con chim bồ câu, con bị xích chân, con bị trói cổ, con bị xách chổng ngược đầu xuống đất, được bán lẻ từng con với cái giá 60 nghìn đồng/ con. Người ban chắc giá, người mua eo xèo: “Bán gì mà đắt thế, tôi mua phóng sinh chứ có ăn đâu”.


Ở phiên chợ chim nhộn nhịp không khí bán mua này, chẳng có ai đến đây thưởng chim và cũng chẳng có một tiếng chim hót nào, chỉ thấy tiếng đập cánh xao xác, khô khốc vào nan lồng. Người bán chim cắm cúi cắt cánh chim, để khi được phóng sinh, chim không thể bay xa hoặc không cất nổi cánh.


Sau khi nghi lễ phóng sinh hoàn tất, những người này lại bắt lại những con chim nhốt vào lồng để… bán cho người khác. Khi có người đến mua chim, sau khi hỏi số lượng cần mua, người phụ nữ bán chim đưa tay vào cái lồng đen đặc, hốt từng nắm bỏ vào chiếc lồng khác để bán.


Lũ chim quằn quại, giãy giụa giẫm đạp lẫn nhau, lông lá bay tung tóe. Trong số đó, có con bị thương, nằm thoi thóp cam chịu bị đè bẹp. Có những bầy chim nhốt lồng lâu ngày, không ai mua. Người bán để bầy chim chết đói, chết khát rồi quăng ra đường.


Kết


Có cung thì có cầu, việc phóng sinh đã vô tình tạo thành một chuỗi cung ứng hoàn toàn phù hợp với quy luật kinh tế thị trường. Có người mua chim tất sẽ nhiều người đặt bẫy bắt chim. Thế là những chú chim bay lượn tự do trên không trung liên tục bị sa lưới.


Chim bắt về bán cho những người đi chùa phóng sinh. Trước cảnh những con chim bị bắn hạ, “tù đầy”, ốm yếu, chết chóc, không ít người cho rằng cần phải nhìn nhận đúng việc phóng sinh. Người tâm không thiện, mua chim khiến kẻ khác vì hám tiền đi lùng chim trời về bán, lấy cớ để phóng sinh, thì càng trọng tội hơn.


Thầy Thích Quảng Thiện – trụ trì chùa Bụt Mọc (Đông Anh, Hà Nội) nhắn nhủ: “Phật dạy mình đừng có cùm kẹp mà để cho các loài vật được tự do. Còn về nghĩa bóng, phóng sanh là phóng thích những cái tâm ô uế như cái tâm tham, cái tâm đố kị, cái tâm hơn thua, cái tâm thù hận… ra khỏi con người mình để mình được tự do.


Khi mình phóng những cái đó đi rồi, mình được tự do thì những người khác gần mình cũng được tự do. Tự nhiên cuộc sống sẽ trở nên bình yên. Còn mình để những cái tâm đó trong lòng thì những người gần mình cũng sinh ra thù hận, tạo ra cho họ sự thù hận. Ý nghĩa sâu xa của việc phóng sanh trong đạo Phật là như vậy chứ không phải là mua mấy con chim, con cá rồi đem đi phóng sanh”.


Có lẽ, đã đến lúc cần phải triệt tiêu cái nghề phá hoại môi sinh, môi trường này. Lẽ nào làm phúc, phóng sinh lại là “mảnh đất màu mỡ” cho kẻ buôn bán, kiếm lợi trên sự sống của loài vật khác?


(BPLVN)



Kỳ lạ hành động đốt bao cao su vào rằm tháng 7