Hiển thị các bài đăng có nhãn biển đông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn biển đông. Hiển thị tất cả bài đăng

Đinh Cương bàn về “hợp tác nghề cá” và “chia sẻ tài nguyên” trên Biển Đông nhưng không quên thòng vào đó cái tuyên bố chủ quyền vô lý và phi pháp của Trung Quốc khi nói rằng, “ngư dân Trung Quốc không thể bị coi là có lỗi khi đánh bắt cá trong vùng lãnh hải của Trung Quốc”.



Đinh Cương, bình luận viên tờ Nhân Dân nhật báo Trung Quốc.

Đinh Cương, bình luận viên tờ Nhân Dân nhật báo Trung Quốc.


Thời báo Hoàn Cầu hôm qua 21/8 đăng bài phân tích của Đinh Cương, một cây viết bình luận thường xuyên trên tờ Nhân Dân nhật báo cho biết, trong tháng 8 này chỉ riêng tỉnh Hải Nam Trung Quốc đã có gần 10 ngàn tàu cá kéo ra các vùng biển sâu đánh bắt (trái phép) ở Biển Đông, đồng thời đưa ra đề xuất về cái gọi là “hợp tác chia sẻ nguồn lợi thủy sản Biển Đông”.


Bài viết của Đinh Cương bàn về “hợp tác nghề cá” và “chia sẻ tài nguyên” trên Biển Đông nhưng không quên thòng vào đó cái tuyên bố chủ quyền vô lý và phi pháp của Trung Quốc khi nói rằng, “ngư dân Trung Quốc không thể bị coi là có lỗi khi đánh bắt cá trong vùng lãnh hải của Trung Quốc”.


Cái gọi là “vùng lãnh hải của Trung Quốc” mà ông Cương và tờ Hoàn Cầu tự nhận ở đây chính là đường lưỡi bò họ đang tuyên truyền, lúc ngấm ngầm khi công khai, lúc xen vào các vấn đề khái niệm tưởng chừng không liên quan để lừa gạt dư luận.


Ông Cương còn cáo buộc vô căn cứ đối với các nước ven Biển Đông đã “tranh giành” nguồn lợi thủy sản” dồi dào ở khu vực này mà quên mất rằng, chỉ riêng tỉnh Hải Nam thôi đã có gần 10 ngàn tàu cá đang kéo ra Biển Đông “xí phần”, không những vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) mà còn vi phạm vùng biển chủ quyền của các quốc gia ven Biển Đông.


Tàu cá Trung Quốc đánh bắt trái phép tại khu vực quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Tàu cá Trung Quốc đánh bắt trái phép tại khu vực quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.


 


Cụ thể hơn, Đinh Cương chỉ trích theo lối chụp mũ Việt Nam “khuấy lên các khiếu nại liên tục về hoạt động (đánh bắt trái phép) của ngư dân Trung Quốc” và rồi ông Cương cũng tỏ vẻ “khách quan” khi khẳng định: “Nhưng mặt khác, ngư dân Trung Quốc cũng tự phá hoại các nguồn tài nguyên trong các vùng biển tranh chấp với việc đánh bắt quá mức trong những năm gần đây”.


Hiện nay, do cạn kiệt nguồn cá gần bờ nên các tàu cá Trung Quốc bắt đầu xâm nhập và đánh bắt (trái phép) trên các vùng nước sâu ở Biển Đông mà Đinh Cương tự cho là “các ngư dân trong khu vực đã quen với sự xuất hiện của các tàu cá Trung Quốc”?! Một kiểu lập lờ đánh lận con đen nguy hiểm.


Tự biến mình thành nạn nhân, Đinh Cương cho hay, ngư dân Trung Quốc thường xuyên bị “quấy rối bởi lực lượng hải quân một số nước” ven Biển Đông, thậm chí một số bị bắt giữ vì tội đánh bắt các loài quý hiếm.


Và đó là cái cớ để ông Cương đưa ra “giải pháp” rằng có thể phái tàu giám sát (Cảnh sát biển?) để “bảo vệ tàu cá Trung Quốc” khỏi các cuộc đụng độ tiềm tàng vì khai thác (trái phép) quy mô lớn sẽ làm trầm trọng thêm mối quan hệ vốn đã căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước láng giềng cũng như làm suy yếu đi nguồn tài nguyên trên Biển Đông mà Đinh Cương nói là “của mình”.


Tàu cá Việt Nam kiên cường bám biển Hoàng Sa, khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc bất chấp Hải giám Trung Quốc rượt đuổi.

Tàu cá Việt Nam kiên cường bám biển Hoàng Sa, khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc bất chấp Hải giám Trung Quốc rượt đuổi.


Đinh Cương kết luận: “Cá không biết gì về biên giới lãnh thổ. Các nước xung quanh Biển Đông cần phải nỗ lực phối hợp để bảo vệ nguồn lợi thủy sản và đạt được sự hợp tác phát triển chung”. Ông Cương cố tình lờ đi thực tế rằng người đánh cá Trung Quốc có “biết gì” về biên giới lãnh thổ và họ vẫn đang nhắm mắt xâm phạm các vùng biển của nước khác khi tự nhận nó là của mình.


Với giọng “người lớn”, ông Cương nói, là quốc gia lớn nhất trong khu vực, Trung Quốc có trách nhiệm bắt đầu đàm phán về việc thành lập một cơ chế hợp tác trong lĩnh vực nghề cá ở Biển Đông, trong đó đưa ra một số biện pháp cụ thể bảo vệ các nguồn tài nguyên nghề cá.


Cái “biện pháp” mà Đinh Cương đề cập là “Trung Quốc có thể hoạch định một số khu vực không đánh bắt, thiết lập chương trình đánh bắt trái màu đúng cách và liệt kê rõ các loài không được đánh bắt” cứ như thể Biển Đông là ao nhà của Trung Quốc và Bắc Kinh muốn áp đặt gì cũng được.


Xung quanh việc ASEAN và cộng đồng quốc tế thúc đẩy Trung Quốc ngồi vào đàm phán và ký kết bộ Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC) trong khi Bắc Kinh tìm mọi cách hoãn binh, lần nữa thì Đinh Cương cho là hợp tác cùng khai thác nghề cá ở Biển Đông “khả thi” hơn COC.


Và rồi vẫn giọng điệu sai trái cũ, Cương lại thòng vào cái gọi là điều kiện tiên quyết mà ông Tập Cận Bình vừa nhắc hôm 30/7: “Chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác tranh chấp cùng khai thác”, một thứ điều kiện phi lý không thể chấp nhận được.


(BGDVN)



Đòi "chia sẻ tài nguyên", 10 ngàn tàu cá Trung Quốc tràn ra Biển Đông
Bài đọc liên quan:

Lịch sử thế giới là một chuỗi những sự kiện bi kịch của loài người. Hùng có, bi có, lụy có, v.v... không thiếu những mùi vị cay, đắng, ngọt, bùi, mặn nồng nào trên thế gian trần tục này. Hầu như tất cả đều bắt đầu từ những đúng đắn hoặc sai lầm của tầng lớp tinh hoa - chính khách - của các dân tộc mà ra. Đặc biệt, là tầng lớp Quốc phụ khai quốc công thần của các dân tộc mà nên.

Lịch sử hùng cường, ngọt bùi và mặn nồng nhiều, nhưng nhược tiểu, bi ai và cay đắng thì ít, thường đi với những vùng đất có tầng lớp Quốc phụ có tầm tư tưởng đi trước thời đại, hợp với với quy luật xã hội học, để tạo ra một xã hội do dân, của dân và vì dân.

Ngược lại, lịch sử của một vùng đất nhược tiểu, bi ai và cay đắng chiếm phần lớn, trong khi đó hùng cường, ngọt bùi và mặn nồng thì hầu như khó thấy. Cũng vì ở dân tộc và vùng đất đó không có những Quốc phụ có tầm nhìn xa trông rộng vì dân tộc và tổ quốc, mà chỉ vì danh lợi của cá nhân. Họ - những Quốc phụ - sẵn sàng làm thân tôi mọi cho ngoại bang, sẵn sàng bán rẻ xương máu dân tộc và giang sơn xã tắc ông cha để lại, để cung phụng cho lợi ích riêng tư.

Điều này dễ dàng kiểm chứng ở các nhược tiểu và cường quốc trên khắp năm châu, bốn bể. Song, lịch sử là của kẻ chiến thắng viết cho mình, nên lịch sử "dễ bị lãng quên" những cái cần nhớ rõ, vì mục đích của kẻ cầm quyền. Nó di hại đến các thế hệ mai hậu.

Nhìn lại nước Việt, trong một tác phẩm Phan Châu Trinh qua tài liệu mới của tác giả Lê Thị Kinh, do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2001, có đoạn mà viện sĩ De Brieux nhận định khi đi thăm Ấn Độ và Đông Dương như sau:

"...Phải nghĩ và làm quen với ý nghĩ là dù chúng ta (người Pháp) có làm gì đi nữa cũng không thể mãi mãi giữ Đông Dương được.

Nếu chúng ta không trả cho người An nam thì có kẻ sẽ giành lấy.

Và kẻ đó chính là nước Trung Hoa.

Và ngày mà ở châu Âu chúng ta phải đương đầu với một cường quốc thì ngày đó người Trung Hoa sẽ nhẹ nhàng chiếm Đông Dương như người Ý năm 1870 đã chiếm lấy đất đai của Giáo hoàng. Nếu người Sài Gòn muốn chống lại thì với 100 nghìn người Trung Hoa ở chợ Lớn họ không cần súng ống cũng trị được. Ở đâu trên đất Đông Dương cũng vậy, cứ 1 người Pháp thì đã có 20 người Trung Hoa..."

Phần còn lại của nhận định này mọi người có thể đọc nó trong bài báo với cái tựa Người Pháp đã nhận ra toan tính của Trung Quốc đối với Việt Nam từ năm 1909.

Thế thì, lịch sử cận đại của nước ta nó đã diễn ra trong 60 năm qua là một bi kịch hơn là hùng ca. Có những chữ nếu mà, không thể xảy ra như chăm ngôn: "Có 3 điều không thể lấy lại được là, thời gian, lời nói và cơ hội khi chúng đã xảy ra, dù đúng hay sai". Nước Việt của chúng ta đã nằm trong bi kịch đắng cay ở thời gian và cơ hội khi thực dân Phú Lang Sa - Pháp - muốn giao lại cái Đông Dương gồm 3 nước, Việt Miên Lào cho người An Nam cai trị, vì mục đích chống đỡ lại Trung Hoa. Nhưng cũng cứ hãy nhìn lại để ôn cố tri tân bằng một chữ nếu xem sao?

Cú thỏa hiệp lịch sử giữa Nixon và Mao thông qua cuộc đi đêm của Kissinger với Chu Ân Lai thành công bằng Hiệp định Paris 1973 và bi kịch của dân tộc và đất nước Việt kéo dài từ đó đến nay khi Mỹ bán Đông Dương cho Trung Hoa, đổi lại Trung Hoa phải quay đầu thân Mỹ để chống lại Liên Xô. Cuối cùng mọi bi thương đều đổ lên đầu lên dân tộc Việt, nhưng tất cả rất dễ bị quên.

Nếu ngày ấy, các Quốc phụ của hai miền Nam Bắc có đủ tầm nhìn xa, trông rộng. Họ sẽ không vì cái gì đó, mà phải làm thân tôi, mọi cho hai phe tả hữu, hắc bạch đang thực hiện trò chiến tranh lạnh, bằng cách lấy xứ Đông Dương nói chung và  Việt Nam nói riêng ra là nơi thử bom đạn, và vùng tranh bá đồ vương, thì với cái Liên Bang Đông Dương như Pháp đã để lại, liệu Trung Hoa có hùng hổ gây hấn và bắt nạt chúng ta như đã diễn ra từ sau 30/4/1975 hay không?

Chữ nếu này thì không thể lấy lại được. Và nó đã thể hiện lịch sử hiện đại của ta trong hơn 60 năm qua là bi, cay, đắng và ly tán, để có hôm nay đầy rẫy những tha hoá cả văn hoá đến đạo dức toàn dân tộc, mà nếu - lại nếu - muốn sửa sai lầm này đòi hỏi thời gian tính bằng thế kỷ!

Gần đây, để chống chọi một cách yếu ớt với trò gây hấn kiểu cá lớn nuốt cá bé của Trung Hoa, chúng ta lại không có lực, có trí và có tầm cho đại sự, mà lại có những hành động rất cạn nghĩ như việc "làm ra" chứng cứ tấm bản đồ cổ của Trung Hoa, mà tấm bản đồ này không nói Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Hoa và cũng không thuộc cả của Việt Nam. Lại có thêm thông tin một bạn trẻ đang du học Mỹ sưu tầm nhiều tấm bản đồ chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa không là của Trung Hoa mà là của Việt Nam. Dẫu biết rằng lịch sử là vậy, và những tấm bản đồ là cứ liệu khoa học, nhưng liệu nó có giúp ích gì với kiểu xâm lược mạnh thắng yếu thua của Trung Hoa?

Thế thì, liệu có thể xảy ra trong vài tháng tới, Trung Hoa lại diễn trò như ta, họ đưa ra một tấm bảng đồ cổ hơn của ta rằng thời đại nào đó cách nay hơn vài thế kỷ đã có tấm bản đồ cổ có ghi nhận Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc Trung Hoa không?

Hơn thế nữa, dù cả thế giới lên án, nhưng Trung Hoa ngày càng lấn tới bằng hành động xua tàu đánh cá đến 23 ngàn chiếc xâm lấn biển Đông như thông tin chính thống đã đưa, thì liệu cái chứng cứ tấm bản đồ cổ có giá trị gì? Khi họ đã tự vẽ bản đồ lưỡi bò 9 khúc một cách ngang ngược, chẳng coi công luận thế giới ra gì.

Sao lịch sử rõ ràng, năm 1974 Trung Hoa cướp Hoàng Sa từ tay nhân dân miền Nam Việt Nam như lời ông thủ tướng đã nói trước quốc hội và toàn thế giới, và 1988 Trung Hoa cướp một số đảo đá ngầm Trường Sa của ta không là chứng cứ hùng hồn, mà lại dựa lên tấm bản đồ cổ bỏ quên, của một ông làm ở cái viện Hán Nôm sực nhớ là mình có?

Liệu lịch sử có lập lại khúc bi thảm thời mà Kissinger đi đêm với Chu Ân Lai để thương thuyết với Mao Trạch Đông để bán lại Đông Dương cho Trung Hoa, để Trung Hoa quay đầu thân Mỹ, chống lại Liên Xô, trong khi chúng ta vẫn cứ ngụp lặn trong cảnh nồi da xáo thịt để mất Hoàng Sa vào tháng Giêng 1974. Kế đến lại mất thêm một số đảo chìm ở Trường Sa vào năm 1988, mà cả Liên Xô và Mỹ đều làm ngơ.

Thế giới nhị nguyên luận trong triết học đã chỉ ra rằng, hoặc tả hoặc hữu, không có chuyện cả tả và hữu ở hai chân. Tuỳ thời mà chọn đúng tả hay đúng hữu để thành công. Ngay cả Hoa Kỳ - nơi được cho là thế giới tự do - có rất nhiều đảng phái, nhưng lãnh đạo đất nước Mỹ cũng chỉ có hai. Lúc tả, lúc hữu cho hợp thời, thì Hoa Kỳ mới có được hùng cường như hôm nay.

Thế thì, tả hay hữu cho một Việt Nam trong thời kỳ khó khăn này - khi mà trong không ấm, mà ngoài chẳng yên. Đó là câu hỏi rất quan trọng, nó quyết định lịch sử đất nước và dân tộc Việt sẽ bi hay hùng, sẽ ngọt bùi hay cay đắng?

Vận mệnh quốc gia dân tộc đặt nặng lên trên mệnh của các tinh hoa trào đình. Mệnh tinh hoa yếu đất nước ngã nghiêng. Mệnh tinh hoa mạnh dân tộc hùng cường. Năm Nhâm Thìn 2012, như tôi đã viết cực dương, hành thủy, về mặt tứ tượng đã đánh vào cái xung khắc của hai nhân vật nắm đầu hành pháp lắm chuyện đau đầu. Năm tới 2013, cái tứ tượng cực âm, hành hỏa sẽ xung khắc với người đứng đầu trong mọi người hứa hẹn nhiều khác lạ, mà không thể dự báo trước. Vậy bi hay hùng cho một trang sử mới của dân tộc Việt?

Câu hỏi lớn này nó còn tùy thuộc vào sự chọn lựa của các tinh hoa trong cách dẫn dắt cộng đồng Việt đi về hướng nào, chứ không phải lần khần theo cách đu dây.

BS Hồ Hải - Tư Gia - 21h28' ngày thứ Hai, 06/8/2012
Bài dịch của Trang La
Bài viết liên quan của tác giả khác:
Bài viết của chủ blog:

Bài viết gốc: Calming the South China Sea

Bài viết của ông Gareth Evans, cựu Bộ trưởng ngoại giao Úc trong 8 năm và Chủ tịch danh dự của Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group), hiện là hiệu trưởng danh dự của ĐH Quốc gia Úc (ANU) và đồng chủ tịch của Trung tâm toàn cầu về Trách nhiệm bảo vệ. Là một Ngoại trưởng, ông đã đi đầu trong việc nối lại mối quan hệ của Úc với Trung Hoa, Ấn Độ và Indonesia, trong khi thắt chặt thêm mối liên minh với Hoa Kỳ, và hỗ trợ việc thành lập diễn đàn an ninh APEC và ASEAN. Ông cũng giữ vai trò lãnh đạo trong việc đem lại hòa bình ở Campuchia và đàm phán Công ước quốc tế về Vũ khí hóa học, và là người đứng đầu xây dựng khung học thuyết “trách nhiệm bảo vệ” của Liên Hợp quốc.

CANBERRA - Vùng biển Đông (bài dịch sẽ sử dụng từ biển Đông thay vì biển Nam Trung Hoa) - được quan tâm lâu nay, cùng với eo biển Đài Loan và bán đảo Triều Tiên, là một trong ba điểm nóng của khu vực Đông Á - lại dậy sóng một lần nữa. Tuyên bố của Trung Hoa về việc triển khai quân tới quần đảo Trường Sa trong vòng một tháng tới thể hiện sự ngang nhiên cạnh tranh chủ quyền, sự hiện diện của hải quân Trung Hoa trong khu vực tranh chấp trở nên rõ ràng hơn, và Trung Hoa đã làm chia rẽ Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), nó đã làm cho việc các bộ trưởng ngoại giao của các nước trong khu vực không thể thống nhất về một thông cáo, điều mà chưa hề xảy ra trong 45 năm qua.

Vấn đề này đã gay gắt từ lâu - tương tự như việc bố trí quân đội và đấu tranh ngoại giao từ 2009 tới giữa 2011. Một điều đáng lưu tâm nho nhỏ: trải dài từ Singapore tới Đài Loan, vùng biển Đông là đường biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, với một phần ba lưu lượng vận chuyển hàng hải của thế giới quá cảnh qua đây.

Nhiều quốc gia lân cận tuyên bố chủ quyền nhiều hơn đối với nhiều khu vực của biển Đông - và có xu hướng đẩy các tuyên bố này trở nên quyết liệt - hơn là bất cứ vùng hải phận tương tự nào khác. Và bây giờ nó được xem như một nơi thử nghiệm chủ chốt cho cuộc cạnh tranh Trung - Mỹ, với việc Trung Hoa bành trướng thêm vây cánh, và Mỹ cố gắng cắt bỏ những vây cánh đó để duy trì vị thế số một của mình trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu.

Các vấn đề pháp lý và chính trị đi kèm với cuộc cạnh tranh giành chủ quyền lãnh thổ - và tài nguyên biển, tài nguyên năng lượng, và các quyền hàng hải đi kèm với chúng - là vấn đề phức tạp đau đầu. Các sử gia tương lai có lẽ sẽ nhắc tới vấn đề của Biển Đông giống như Lord Palmerston(1) đã nói về vấn đề Schleswig - Holstein(2) trong thế kỷ 19: “Chỉ có ba người hiểu được nó. Một đã chết, một bị điên và người thứ ba là tôi - và tôi thì quên rồi.”

Vấn đề lãnh thổ cốt lõi hiện nạy đang xoay quanh lợi ích của nhà nước Trung Hoa – thể hiện qua việc phân chia ranh giới không chính xác trong bản đồ “chín đường gián đoạn” (đường lưỡi bò) năm 2009 – trong gần như toàn bộ biển Đông. Tuyên bố của đường lưỡi bò bao gồm cả bốn quần đảo đang tranh chấp: Quần đảo Hoàng Sa ở phía tây bắc, vốn được tuyên bố chủ quyền bởi cả Việt Nam; bãi đá Macclesfield, bãi đá ngầm Scarborough Reef ở phía bắc, được tuyên bố chủ quyền bởi cả Phillipin; và quần đảo Trường Sa ở phía Nam (rất nhiều tuyên bố chủ quyền từ cả Việt Nam, Phillipin, Malaysia và Brunei, giữa từng quốc gia và giữa các quốc gia với Trung Hoa).

Hiện đang có tranh chấp giữa nhiều bên để chiếm chủ quyền của các quần đảo này càng nhiều càng tốt - trong khi một số đảo chẳng có gì ngoài đá. Điều này, một phần là do Luật biển của Liên hợp quốc, đã được tất cả các quốc gia này phê chuẩn, rằng các quốc gia ven biển được quyền tuyên bố chủ quyền trong vòng 200 dặm biển cho vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) (cho phép đặc quyền khai thác thủy sản và tài nguyên dầu) do chúng có thể duy trì đời sống kinh tế tự túc. Nếu không, các quốc gia này chỉ có quyền tuyên bố chủ quyền trong phạm vi 12 hải lý của lãnh hải.

Điều làm tăng thêm mối quan ngại của khối Asean về ý đồ của Bắc Kinh đó là, ngay cả khi Trung Hoa có thể tuyên bố chủ quyền một cách hợp lý đối với toàn bộ các quần đảo ở biển Đông, và tất cả các quần đảo đều có thể sinh sống, thì vùng đặc quyền kinh tế EEZ gắn liền với các đảo đó không bao gồm các vùng biển nằm trong đường lưỡi bò trong bản đồ năm 2009 mà Trung Hoa đưa ra. Điều này đã gây ra những lo ngại, không phải là vô căn cứ, rằng Trung Hoa không có ý định hành động tuân thủ những điều khoản quy định trong Công ước biển, và có lẽ sẽ đưa ra tuyên bố chủ quyền rộng hơn dựa trên lịch sử.

Một cách thức hợp lý hơn cho thời gian tới có thể bắt đầu nếu các nước đều bình tĩnh trước hành động khiêu khích ra bên ngoài của Trung Hoa và lời kêu gọi chủ nghĩa dân tộc cực đoan bên trong. Chưa có gì đáng báo động từ phía nhà nước cộng sản, bao gồm toàn bộ chính phủ và đảng cộng sản, qua đó Trung Hoa quyết định hành động triệt để. Thay vào đó, theo một báo cáo xuất sắc được phát hành vào tháng Tư bởi Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group), các hành động của Trung Hoa tại biển Đông trong vòng ba năm qua có vẻ đã nổi lên từ những sự khơi mào không nhất quán của các ‘diễn viên’ nội địa khác nhau, bao gồm chính quyền địa phương, cơ quan thực thi pháp luật, các công ty năng lượng thuộc sở hữu nhà nước, và Quân đội giải phóng nhân dân Trung Hoa(PLA).

Bộ Ngoại giao Trung Hoa hiểu rõ về những hạn chế trong luật quốc tế hơn bất cứ ai, chưa hề làm gì vượt quá giới hạn. Nhưng với các hành động của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa và các hành động khác gần đây, khi quá trình chuyển giao quyền lực của quốc gia này (gây ra căng thẳng cho nhiều quan chức chủ chốt ở trung ương) sẽ xong xuôi vào cuối năm nay, đó là lý do để hy vọng rằng trạng thái kiềm chế hơn của Trung Hoa sẽ được xác lập.

Trung Hoa có thể và nên hạ nhiệt bằng cách cân nhắc lại các phương sách giảm thiểu rủi ro và gây dựng lòng tin một cách ôn hòa hơn như đã thỏa thuận với ASEAN năm 2002 - và xây dựng trên nền tảng đó bộ nguyên tắc ứng xử đa phương mới. Và, càng sớm càng tốt, nó cần phải được định nghĩa chính xác, với sự tham khảo các nguyên tắc đã được hiểu và chấp nhận, để biết tuyên bố chủ quyền của họ thực ra tới đâu. Chỉ khi đó lập trường của nhà nước Trung Hoa mới có được sự tin tưởng - với những nguyên tắc không phải không hấp dẫn - về thỏa thuận chia sẻ tài nguyên  trong khu vực tranh chấp lãnh thổ mà hiện vẫn còn chờ nghị quyết cuối cùng từ các tuyên bố chủ quyền cạnh tranh.

Hoa Kỳ, về phần mình, trong khi bào chữa cho việc tham gia vào việc tuyên bố chủ quyền của ASEAN là nhằm chống lại hành động quá khích của Trung Hoa trong giai đoạn 2010 - 2011, cần phải cẩn trọng về việc leo thang ảnh hưởng của mình. Việc quân đội Mỹ “cắm chốt” ở châu Á đã gây ra sứt mẻ tình cảm với Trung Hoa và việc duy trì quan hệ ngoại giao cũng khó khăn hơn trong thời kỳ chuyển giao quyền lực. Trong bất cứ sự kiện nào, mối quan ngại nhà nước của Hoa Kỳ về tự do hàng hải trong khu vực này có vẻ hơi cường điệu.

Một điểm tích cực, và được hoan nghênh rộng rãi là, một bước mà Hoa Kỳ có thể tiến tới đó là cuối cùng phê chuẩn Công ước biển, qua đó các nguyên tắc sẽ buộc phải là nền tảng cho việc chia sẻ tài nguyên một cách hòa bình - trong vùng biển Đông cũng như ở mọi nơi. Yêu cầu các bên làm theo lời một bên là điều không tưởng nó cũng như sẽ không hiệu quả nếu yêu cầu các nước phải tuân theo hành động của một nước. 

@Project Syndicate 2012

Ghi chú:
1. Lord Palmerston (20 tháng 10 năm 1784 -18 tháng 10 năm 1865): một chính khách Anh đã từng phục vụ hai lần làm Thủ tướng Chính phủ trong giữa thế kỷ 19. Ông được nhớ đến vì chính sách đối ngoại của Anhthông qua một khoảng thời gian khi Anh đang ở đỉnh cao quyền lực toàn cầu. Ông đã từng Bộ trưởng Ngoại giao Thủ tướng Chính phủ Anh.

2. Schleswig – Holstein: là 2 vùng đất của tiểu bang cùng tên đôi hiện là tiểu bang thứ 6 thuộc cực Bắc của Liên Bang Đức kể từ sau chiến tranh thế giới II. Trước đó, 2 vùng đất này thuộc tranh chấp giữa 2 quốc gia Đan Mạch và Đức. Dù các lãnh đạo của 2 vùng đất soạn thảo văn bản pháp luật và xin theo Liên Bang Đức vào năm 1848. Nhưng chiến tranh đã xảy ra từ năm1848 đến1851 và Đan Mạch đã thắng. Sau đó đến thời kỳ thủ tướng thép Otto von Bismarck - một người đã đưa Đức hùng cường trong thế kỷ XIX - can thiệp và Phổ cùng Áo tuyên chiến với Đan Mạch. Đây là cuộc chiến tranh thứ hai của Schleswig kết thúc với sự thất bại Đan Mạch. Anh cố gắng để hòa giải không thành công, và Đan Mạch bị mất Schleswig (miền Bắc và miền Nam Schleswig), cả Holsteinvào cuộc chiến tháng 11/1863.

 Bản đồ vùng Schleswig – Holstein thuộc Đức hiện nay tiếp giáp với biên giới Đan Mạch

Đến chiến tranh thế giới I, Đức thất bại thì lực lượng đồng minh lại quyết định tiểu bang này thuộc về Đan Mạch. Năm 1937 Đức quốc xã đã thông qua cái gọi là Greater Hamburg Act để chiếm vùng này. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai, tỉnh Schleswig-Holstein nằm dưới sự chiếm đóng của Anh. Ngày 23 tháng tám năm 1946. Chính phủ quân sự bãi bỏ tỉnh và thiết lập lại chúng như là một vùng đất riêng biệt. Schleswig-Holstein có quốc hội riêng của mình và chính phủ được đặt tại thành phố Kiel. Tuy nhiên hiện nay thuộc về nước Đức.

BS Hồ Hải hiệu đính và ghi chú - Asia Clinic - 11h35' ngày thứ Năm, 02/8/2012
Bài đọc liên quan:

Dân cư mạng lại kháo nhau làm cờ quạt khẩu hiệu để đi biểu tình chống Trung Hoa xâm chiếm biển Đông. Câu chuyện có thể là, nhân dân mượn biển Đông để làm chuyện lớn. Nhưng câu chuyện cũng có thể là đảng bật đèn xanh để dân xuống đường vì một mũi tên bắn ra có nhiều mục tiêu để xử. Những gì cần lên tiếng tôi đã lên tiếng trong nhiều bài viết và bình luận trên blog này rồi. Ở entry này chỉ đưa hình ảnh có thực để diễn giải cặp phạm trù hiện tượng - bản chất của một vấn đề xã hội học.

Hiện tượng
 Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu chống lại gia đình Ngô Tổng Thống dưới chiêu bài đạo phật bị đàn áp. Tôi nhớ hồi đó tất cả các hòa thượng trụ trì ở các chùa thuộc miền Nam đồng lòng tự thiêu tử vì đạo để bảo vệ phật giáo. Ông hòa thượng Thích Quảng Đức là người bắt trúng lá thăm nhận lãnh tự thiêu đầu tiên bên những người tu hành, nên ông được ghi danh sử sách. Sau đó là cứ mỗi tuần một hòa thượng được lá thăm thứ 2, 3, 4, ... tiếp tục nhiệm vụ tự thiêu. Năm ấy đến lượt thứ 3, một ông hòa thượng trụ trì một chùa ở Đà Lạt, vì còn quá trẻ, chưa đủ sức thiền định, nên khi bốc hỏa thì nóng quá không chịu được, ông chạy lung tung. Nhưng cuối cùng ông cũng chết vì phỏng. Câu chuyện tự thiêu này là do tự nguyện. Cũng như vậy, bên học sinh sinh viên có bà Quách Thị Trang. Nhưng nó chỉ là hiện tượng do thiếu hiểu biết của các nhà tu và sinh viên đấu tranh, bị lợi dụng đúng nghĩa hơn là vì đạo hay vì yêu nước.

 Cáp thăm dò siêu âm của tàu thăm dò dầu khí của PVN trên biển Đông bị tàu giám hải của Trung Hoa cắt vào tháng 6/2011. Nó chỉ là hiện tượng của một bản chất đằng sau đó thể hiện trong Hội thảo lý luận lần thứ 7 của 2 đảng cộng sản Việt - Trung tổ chức vào tháng 11/2011 tại thành phố Thường Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Hoa từ ngày 28-30/11/2011

Sau sự kiện cắt cáp thì có đến 11 lần xuống đường của toàn dân 2 đầu đất nước, trai gái, trẻ già, dân thường và trí thức nhân sĩ, kể cả những người đã từng dẫn đầu và những người ăn theo đoàn sinh viên học sinh ngô nghê biểu tình chống chế độ VNCH trước 1975 ở miền Nam, để biểu thị tinh thần yêu nước. Nhưng ở Sài Gòn chỉ diễn ra được 3 lần thì dân Sài Gòn tự hiểu bản chất của vấn đề và ngưng biểu tình. Riêng Hà Nội kéo dài đến khi nữ biểu tình viên Bùi Hằng bị vào trại cải tạo thì mọi cuộc biểu tình ngưng lại.

Một thanh niên biểu tình ở Sài Gòn bị đàn áp và bị bắt hồi ngày 12/6/2011
 Một thanh niên và là đảng viên đang công tác trong bộ máy nhà nước bị đàn áp và bị tống lên xe chuyển về trại giam trong ngày 17/7/2011.

Bản chất
Sau cỡi trói để tự cứu mình, đảng cộng sản Việt Nam quay lại hữu hảo với Trung Hoa và 2 đảng Anh Em nồng thắm chung tay đoàn kết lo bám víu ngai vàng đang mục ruỗng vì chính trị suy đồi, bằng những cuộc hôi thảo lý luận cho đường lối chăn dắt dân mới là bản chất thực của vấn đề.

Hội thảo lý luận lần thứ 4 giữa 2 đảng cộng sản Việt Nam và Trung Hoa về chủ đề: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn - kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc" diễn ra tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa từ 31/10 đến 02/11/2008.

Hội thảo lý luận lần thứ 5 giữa 2 đảng cộng sản Việt - Trung về chủ đề: “Lý luận và thực tiễn ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu – Kinh nghiệm Trung Quốc, kinh nghiệm Việt Nam” diễn ra tại thành phố Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến trong 3 ngày từ 12-14/12/2009.

Hội thảo lý luận lần thứ 6 giữa 2 đảng cộng sản Việt - Trung diễn ra ở thành phố Đà Nẵng bàn về chủ đề: "Đẩy mạnh xây dựng văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc." trong 3 này từ 08-10/9/2010

Hội thảo lý luận lần thứ 7 giữa 2 đảng cộng sản Việt - Trung về vấn đề: "Làm tốt công tác quần chúng trong tình hình mới - kinh nghiệm của Trung Hoa, kinh nghiệm của Việt Nam. Nó diễn ra trong 3 ngày 28-30/11/2011 sau những gì biểu tình chống Trung Hoa hồi tháng 6 thì 2 đảng bàn về nưu chước để trị dân tại thành phố Thường Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Hoa.

Hội thảo lý luận lần thứ 8 giữa 2 đảng cộng sản Việt - Trung với chủ đề: "Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế ở Trung Hoa" diễn ra trong 3 ngày từ 07-09/6/2012 vừa qua ở thành phố Hạ Long, Quảng Ninh.

Quá rõ ràng để thấy hôm nay có tình trạng Trung Hoa đưa ra việc kêu gọi đấu thầu 9 ô thăm dò dầu khí ở thềm lục địa phía Nam của Việt Nam và thành lập thành phố Tam Sa làm dân cư mạng kêu gọi biểu tình chống Trung Hoa bành trướng bá quyền một lần nữa.

Bổn cũ soạn lại, nhưng xem ra tình hình rất phức tạp tranh tối, tranh sáng trong lúc này, khó lòng phân định đâu giả, đâu chân. Song, nên nhớ rằng mọi việc điều hành đất nước là do đảng lãnh đạo, mà đảng là ai, nếu không phải lại bộ phận lý luận này điều khiển đằng sau bộ chính trị đảng cộng sản của 2 nước?

Nên, kinh nghiệm lịch sử đã trải qua nửa thế kỷ qua cho thấy, kẻ có trí nên bình chân như vại nhìn thế sự nhiễu nhương và thiên hạ vẽ mặt, vẽ mày diễn tuồng trên sân khấu chính trị như thế nào sẽ rõ chỉ trong vòng 5 năm tới mà thôi. Còn kẻ cơ hội thì xúi giục những cái đầu nóng lên đường như những gì đã diễn trong quá khứ.

Asia Clinic, ngày thứ Bảy, 14h00 30/6/2012

Update lúc 10h30' ngày 01/7/2012 một vài hình ảnh của cuộc biểu tình ngày 01/7/2012 ở 2 đầu Sài Gòn và Hà Nội:

Tại Sài Gòn cuộc biểu tình nổ ra trước với việc biểu tình viên tụ quanh Ông Andre Hồ Cương Quyết - một người Pháp xin lấy Việt Nam làm quê hương, đã từng là biểu tình viên trước 30/4/1975 ở miền Nam - bên cạnh ông Hồ Cương Quyết có ông Lê Hiếu Đằng cũng là một cựu biểu tình viên sinh viên học sinh của miền Nam trước 1975.

Ở đầu Hà Nội, xuất phát điểm từ việc các bạn trẻ tụ quanh cụ Bà chống tham nhũng Lê Hiền Đức. Nhưng xem ra ở 2 đầu đề được sự chăm sóc kỹ lưỡng của lực lượng chuyên chính vô sản. Dù sao đây cũng là thành công cho ngày đầu ra quân của bà con. Song đến ngày thứ 2 sẽ như thế nào thì hãy đợi tuần sau. Chúc an lành với những tấm lòng đáng quý, dù vẫn còn lắm ngây thơ.


Mọi người tụ quanh Ông Andre Hồ Cương Quyết và đoàn biểu tình ở Sài Gòn nổ ra từ 8h30' sáng 01/7/2012

 Có cả anh Lê Hiếu Đằng - người tóc hoa râm đứng sau cái tay cầm camera ở bên phải hình - tham gia ở Sài Gòn.

 Hà Nội bắt đầu tập trung ở bờ Hồ với cụ bà chống tham nhũng Lê Hiền Đức lúc 8h15' sáng ngày 01/7/2012. Nhưng không được đông như Sài Gòn vì mưa nặng hạt do ảnh hưởng cơn bão Doksuri đang đổ vào biển Đông theo hướng Tây Tây Bắc từ Phillipines.

Một số các bạn trẻ tham gia ở đầu Hà Nội dưới trời mưa nặng hạt do ảnh hưởng cơn bão Doksuri đang đổ vào biển Đông theo hướng Tây Tây Bắc từ Phillipines.

 Câu khẩu hiệu đúng nhất của ngày biểu tình 01/7/2012: "Hãy hành động xứng đáng với tiền thuế của dân"

Clip biểu tình ngày 01/72012 ở Sài Gòn

Bài viết liên quan của tác giả khác:
Bài viết của chủ blog:

Bài viết gốc: China’s Expanding Core

Bài viết của bà Yuriko Koike, cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Cố vấn An ninh Quốc gia Nhật Bản, cựu Chủ tịch Hội Đảng Dân chủ Tự do của Nhật Bản, và hiện đang lãnh đạo phe đối lập trong Quốc hội Nhật Bản.

TOKYO - Trung Hoa hiện đang tham gia trong các tranh chấp cay đắng với Phillipines trên bãi đá ngầm Scarborough(1)với quần đảo Senkaku(2) của Nhật Bản, cả hai đều có vị trí địa lý vượt ra xa ngoài vùng biển rộng 200 dặm lãnh thổ của Trung Hoa ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Thật vậy, việc bành trướng của Trung Hoa như tuyên bố hiện nay làm nhiều người Châu Á đang tự hỏi những gì sẽ làm hài lòng với những tham vọng vô biên của Trung Hoa để bảo đảm những "lợi ích cốt lõi" của Trung Hoa. Có phải không có giới hạn của tham vọng Trung Hoa hay lànhận thức hiện nay của Trung Hoa là muốn phục hồi một Đế chế Trung Hoa, để làm cho toàn bộ thế giới phải  khấu đầu?

Cho đến nay, Trung Hoa đã chính thức gọi Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương là những "lợi ích cốt lõi", một cụm từ bao hàm một sự khẳng định chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ mà sẽ không cho phép bất kỳ sự thỏa hiệpnào. Trung Hoa hiện thời đang cố gắng áp dụng các thuật ngữ tương tự đối với quần đảo Senkaku trong tranh chấp với Nhật Bản, và là hiểm họa sát sườn đối với những yêu sách tương tự cho toàn bộ biển Nam Trung Hoa, thực sự, một số sĩ quan quân đội Trung Hoa đã có mặt ở đây.

Quần đảo Senkaku, nằm ở phía tây Okinawa trên biển Đông Trung Hoa và hiện đang không có người ở, đã sáp nhập vào Nhật Bản bởi chính phủ Minh Trị vào năm 1895. Một thời ở đây, đã có cư dân thường xuyên làm việc tại một cơ sở sản xuất cá ngừ khô. Năm 1969, Ủy ban Kinh tế của Liên Hợp Quốc khu vực Châu Á và Viễn Đông (ECAFE) đã hoàn thành một cuộc khảo sát đáy biển của vùng biển Đông Trung Hoa, và báo cáo có thể có sự hiện diện tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất rộng lớn, bao gồm cả trữ lượng dầu hỏa và khí tự nhiên dồi dào gần quần đảo Senkaku. Hai năm qua, Đài Loan và Trung Hoa liên tục lập lại tuyên bố chủ quyền trên các hòn đảo từ năm 1971, nhưng lập trường của chính phủ Nhật Bản đã luôn luôn khẳng định chủ quyền của Nhật Bản là không bàn cãi.

Trong tháng tư vừa qua, Thống đốc Tokyo, Shintaro Ishihara, một người yêu nước nổi tiếng và ăn nói lưu loát, thông báo rằng chính quyền đô thị của ông đang có kế hoạch để có được bốn hòn đảo của quần đảo Senkaku, sẽ sở hữu tư nhân cho công dân Nhật Bản. Những tài trợ cho việc mua từ người dân Nhật Bản vượt quá 700 triệuYên Nhật (tương đương 8.4 triệu đô la Mỹ).

Trung Hoa phản ứng với đề nghị
của ông Ishihara bằng độ nhạy cảm thông thường của họ: từ chối nhận các chuyến thăm dự kiến ​​của con trai ông Ishihara, người đang là Tổng thư ký Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản, một đảng đối lập chính của nước Nhật.


Hơn thế nữa, tại một cuộc họp ở Bắc Kinh hồi đầu tháng này giữa Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda và Thủ tướng Trung Hoa Ôn Gia Bảo trong hội nghị thượng đỉnh ba bên với Hàn Quốc, Ôn Gia Bảo đề cập đến phong trào độc lập trong khu vực tự trị của người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương và quần đảo Senkaku trong cùng một ý nghĩa. "Điều quan trọng là tôn trọng lợi ích cốt lõi và các vấn đề của mối quan tâm lớn của Trung Hoa", họ Ôn nhấn mạnh.

Cho đến thời điểm đó, chính phủ Trung Hoa đã không bao giờ áp dụngthuật ngữ "lợi ích cốt lõi" đối với quần đảo Senkaku. Sau tuyên bố của Ôn Gia Bảo, hội nghị thượng đỉnh ba bên xấu đi. Nó làm cho cuộc đàm phán song phương giữa Tổng thống Hàn Quốc Lý Minh Bác(Lee Myung-bak) đã được chuẩn bị với Chủ tịch Trung Hoa Hồ Cẩm Đào, cuộc hội đàm giữa Noda với H, và một cuộc họp dự kiến ​​giữa Chủ tịch Liên đoàn các Tổ chức Kinh tế Nhật Bản(Keidanren), Hiromasa Yonekura và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Hoa Dương Khiết Trì, cũng đã được hủy bỏ. Tuyên bố chung được đưa ra tại hội nghị thượng đỉnh đã bị trì hoãn một ngày, và bỏ qua tất cả các vấn đề liên quan đến Bắc Triều Tiên - một mối quan tâm hàng đầu của cả Nhật Bản và Hàn Quốc.

Các nhà lãnh đạo Nhật Bản trị một Trung Hoa lỗ mãng không chỉ bằng một lời khiển trách về vấn đề quần đảo Senkaku, mà còn là việc cho đăng cai hội nghị chung lần thứ tư Đại hội người Duy Ngô Nhĩ trên toàn Thế giới tại Tokyo vào tháng năm. Trước đây, các cuộc họp như vậy đã được tổ chức tại Đức và Hoa Kỳ, và lần này, trong đó việc nhấn mạnh tầm quan trọng bảo vệ quyền con người và bảo tồn truyền thống, văn hóa, và ngôn ngữ của người Duy Ngô Nhĩ, mà chưa bao giờ Nhật Bản có bất kỳ cuộc tham dự nào về những trừng phạt hoặc tán thành chính thức.

Nếu ngoại giao cộc cằn chỉ là biểu hiện duy nhất bằng tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của bành trướng Trung Hoa, thì các nhà lãnh đạo châu Á có thể yên ngủ trong hòa bình. Nhưng thực tế là hải quân Trung Hoa đang ngày càng hoạt động mạnh hơn ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), tại quần đảo Senkaku và đặc biệt là bãi đá ngầm Scarborough, mà còn xung quanh quần đảo Trường Sa mà Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền. Với ngân sách quân sự của Trung Hoa mọc lên như nấm và không minh bạch(secretiveness), sự quyết đoán của họ là tiếng chuông báo động cho các quốc gia có chung vùng biển Nam Trung Hoa.

Hơn nữa, sự bắt nạt của Trung Hoa đối với Philippines bao gồm không chỉ gửi các tàu chiến đến bãi đá ngầm Scarborough, mà còn áp dụng hạn chế nhập khẩu sản phẩm của Phillipines một cách bất ngờ. Và phản ứng của Trung Hoa đối với Nhật còn hoang tưởng hơn rất nhiều kể từ khi chính phủ đối lập với đảng Dân chủ Tự do lên cầm quyền ở Nhật Bản.

Các cuộc đấu tranh quyền lực trong Đảng Cộng sản cai trị Trung Hoa thông qua cuộc thanh trừng Bạc Hy Lai, và sự trốn thoát khỏi sự giam giữ của nhà hoạt động mù Trần Quang Thành(Chen Guangcheng) trong suốt thời kỳ đàm phán kinh tế với Hoa Kỳ, đã khẳng định dân tộc chủ nghĩa của các nhà lãnh đạo Trung Hoa thậm chí còn gay gắt hơn bình thường. Họ không muốn tỏ ra mềm dẻo trong quan hệ đối ngoại và đối nội ở Trung Hoa với những gì được xem là những "lợi ích cốt lõi".

Cho đến nay, Trung Hoa đã không cho phép các cuộc biểu tình hàng loạt chống lại Nhật Bản và những nước khác nó đã từng được sử dụng trong quá khứ để truyền đạt sự không hài lòng của Trung Hoa. Nhưng vấn đề này lại có thể phản ánh trạng thái bồn chồn của các nhà lãnh đạo Trung Hoa trong bối cảnh của cuộc thanh trừng họ Bạc: họ không thể đảm bảo rằng một cuộc biểu tình chống Nhật Bản sẽ trở thành một cuộc biểu tình chống chính phủ cộng sản đang cai trị độc đoán ở Trung Hoa.

Những lợi ích cốt lõi thực sự của Trung Hoa là không bành trướng lãnh thổ và quyền bá chủ trên các nước láng giềng của nó, mà phải ủng hộ các quyền con người và cải thiện phúc lợi của công dân của mình, đó là lợi ích cốt lõi của thế giới ở Trung Hoa. Tuy nhiên, cho đến khi nào Trung Hoa chấp nhận tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) phải được thảo luận đa phương, để các nước nhỏ hơn như Philippines và Việt Nam không cảm thấy bị đe dọa, và bành trướng những “lợi ích cốt lõi” của Trung Hoa sẽ là gốc rễ của sự bất ổn ở Đông Á.

Bản quyền của Project - Syndicate 2012

Ghi chú người dịch:
1. Bãi đá ngầm Scarborough:Tên Trung Hoa là bãi đá ngầm Hoàng Nham. Bãi đá này thuộc chủ quyền trong hải phận Phillipines cách vịnh Subic 198km về phía Tây. Nhưng cách đảo Hải Nam Trung Hoa đến 1.100km. Song năm 1979 Trung Hoa đã tuyên bố là chủ quyền của họ. Hiện nay, Phillipine là nước đang nắm giữ bãi đá chìm này. Nó có tên là Scarborough là do cuối thế kỹ 18 bãi đá này đã làm chìm một con tàu buôn có tên Scarborough.

2. Quần đảo Sekaku: Tên Trung Hoa quần đảo này gọi là Điếu Ngư Đài. Trước thời Minh Trị quần đảo này thuộc đế chế Mãn Thanh. Nhưng từ khi Nhật xâm lược Trung Hoa quần đảo này thuộc về Nhật. Hiện Nhật đang chiếm giữ và thuộc địa phận hành chánh của tỉnh Okinawa.

BS Hồ Hải dịch - Asia Clinic - 16h03’ ngày thứ Bảy, 26/5/2012