Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhìn ra thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhìn ra thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Bài đọc liên quan: Nước mắt chính trị gia

Về mặt chăm lo đất nước Singapore nhỏ bé thì ông Lý Quang Diệu là một người có tâm, và có tầm nhìn chiến lược toàn cầu. Nhưng trong ông vẫn mang tư tưởng của Mao Trạch Đông học từ Tần Thủy Hoàng: "Thiên hạ đại loạn thì Trung Hoa được nhờ".

Tư tưởng ấy đã được ông Lý Quang Diệu áp dụng đưa Singapore trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Singapore đã buôn bán dầu và các nhu yếu phẩm cho cuộc chiến này. Trong 30 năm nội chiến Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai Á và Singapore là 3 quốc gia kiếm lợi nhuận nhiều nhất cho quân nhu, khí tài phục vụ chiến tranh.

Nhưng sau 30 tháng 4 năm 1975, dân Việt Nam vì đời sống quá khó khổ và áp bức của chính quyền mới, họ đã bỏ nước ra đi bằng con đường vượt biển. Chính ông Lý Quang Diệu là người đưa ra chủ trương không tiếp nhận thuyền nhân Việt Nam. Và ông không chỉ cấm tại đất nước của ông, mà ông còn muốn các quốc gia khác từ chối tiếp nhận thuyền nhân Việt Nam qua bức thư ông gửi cho bà thủ tướng đương nhiệm Anh lúc bất giờ - Margaret Thatcher - sau đây:



"Ngày 5/6/1979

Thưa Thủ tướng,

Cảm ơn bà về bức thư ngày 30 tháng Năm.

Vấn đề người tị nạn này rất nghiêm trọng và có lẽ sẽ còn tồi tệ hơn.

Tháng trước, tại một hội nghị quốc tế ở Jakarta ngày 15-16 tháng Năm, đại diện Việt Nam đã tuyên bố rằng Việt Nam sẽ cho phép 10,000 người di tản hợp pháp mỗi tháng. Ông ta ước chừng dè dặt là có khoảng 600,000 người muốn ra đi. Phần lớn cho rằng con số ấy có thể lên đến gần một triệu.

Bà có đề nghị tôi thỉnh nguyện chính phủ Đài Loan nhận những người tị nạn trên con tàu "Roach Bank". Vì quan điểm của chính nước tôi trong vấn đề người tị nạn Việt Nam, tôi không thực sự là người thích hợp để đưa ra yêu cầu đó. Chính sách của Đài Loan không khác gì chính sách của Singapore. Tuy nhiên, tôi sẽ đề nghị họ cân nhắc việc đưa ra một ngoại lệ, ngoại lệ duy nhất, cho những người tị nạn trên tàu "Roach Bank". Tôi không lạc quan về kết quả, vì tôi biết rằng nếu họ chấp nhận thì cử chỉ đó sẽ kéo theo hàng ngàn người tị nạn khác.

Tôi tin rằng những tin tức về vấn đề người tị nạn trên truyền thông và từ các phát ngôn viên của các chính phủ phương Tây chỉ làm lợi cho chính quyền Việt Nam. Chú trọng vào những giải pháp có thể đặt ra, chẳng hạn nước nào sẽ đảm nhận những người tị nạn nào và bao nhiêu, truyền thông đã biến họ thành đối tượng cho sự đổ lỗi lẫn nhau giữa các chính quyền phi cộng sản. Các nước này sẽ bảo đảm được quyền lợi của mình hơn, nếu tập trung năng lượng vào việc vạch trần sự bỉ ổi của chính quyền Việt Nam. Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại, cho nhân dân và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á.­­

Chúng ta phải đẩy họ vào thế thủ. Các nhà lãnh đạo Việt Nam không phải là những kẻ điên rồ vô lý như kiểu Idi Amin[6]. Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh. Chỉ có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ mới khiến họ phải suy xét lại đường lối hiện tại. Từ giờ đến lúc đó, họ sẽ còn tung ra hàng ngàn người tị nạn mỗi tuần.

Kính thư

Lý Quang Diệu"

Asia Clinic, 17h49' ngày Chúa Nhựt, 05/4/2015

Bài đọc liên quan:

Năm 2013 tại Johanesburg Nam Phi, Trung Hoa đã đưa ra sáng kiến thành lập ngân hàng BRICS. Năm quốc gia hàng đầu mới nổi thành lập ngân hàng BRICS - gồm Brasil, Rusia, India, China và South Africa - do Trung Hoa cầm đầu. Đến đầu năm 2014 thì ký kết thành lập. Không biết cái BRICS Bank này đã làm được gì chưa, nhưng Nga thì bị trừng phạt và suy sụp kinh tế, Trung Hoa đang khủng hoảng kinh tế, Brasil cũng đang khốn khổ vì kinh tế.

Ngoài ra, khối BRICS có những rạn nứt về văn hóa và chính trị, nên khó thành. Nhưng một số tiến triển hợp tác kinh tế của Trung Hoa với Nam Mỹ gần đây cho thấy ngân hàng BRICS có hiệu quả của nó.

Năm nguyên thủ quốc gia mới nổi thành lập Ngân hàng BRICS vào năm 2014 tại Brasil.

Giờ Trung Hoa lại nghĩ ra "sáng kiến" thành lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Á châu (AIIB: Asian Infrastructure Investment Bank) gồm hơn 21 quốc gia thành viên châu Á tham gia, trong đó có Việt Nam. Ngày 24/10/2014, tại Bắc Kinh cuộc họp và ký kết thành lập AIIB đã được tổ chức.

21 bộ trưởng tài chính của 20 quốc gia châu Á ký kết thành lập AIIB tại Bắc Kinh.

Hôm thứ Năm tuần trước ngày 13/3/2015,Geoerge Osborne, bộ trưởng tài chính Anh tuyên bố sẽ tham gia AIIB; tiếp theo sau là Đức, Pháp và Ý cùng tham gia. Bộ trưởng Tài chính Anh George Osborne nói việc tham gia AIIB là một cơ hội đặc biệt cho Anh và cho châu Á để đầu tư và cùng phát triển.

George Osborne hân hoan đồng ý gia nhập AIIB.

Trong chuyến đi thăm Úc cuối năm 2014, ông Tập Cận Bình đã ngỏ lời mới Úc tham gia góp vốn vào AIIB, và thủ tướng Tony Abbott đã rất hoan nghênh ý tưởng này.

Tập Cận Bình đã ngỏ lời với Tony Abbott tham gia AIIB sớm trước thời hạn đóng cửa tham gia vào ngày 31/3/2015 này. Nhưng phía Úc chưa chính thức đồng ý.

Đây sẽ là một ngân hàng đối đầu với World Bank, IMF, kể cả ADB. Mấy hôm nay Hoa Kỳ lo sốt vó vì tại sao Trung Hoa không tham gia vào 3 ngân hàng trên mà lại đi mở ngân hàng mới để làm chủ soái với trị giá 50 tỷ đô la, mặc dù với số vốn này AIIB là ngân hàng nhỏ hơn cả ADB, và không thể sánh với IMF hay World Bank.

Một cuộc chiến tranh tiền tệ giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa đang mở ra. Rất nhiều thông tin và bàn luận của các chuyên gia hàng đầu vạch chính sách cho Hoa Kỳ và khắp thế giới đã viết ra trong mấy ngày qua, nào là AIIB sẽ là thảm họa cho Hoa Kỳ, nào là đồng minh của Hoa Kỳ đang đổ xô đến ngân hàng mới của Trung Hoa. Hôm 13/3/2015, tờ The Guardian chạy tít: Mỹ tức giận Anh chịu sự dẫn đầu của Trung Hoa tại AIIB.

Tất cả các điều trên cho thấy phương Tây đang đi tìm sự liên kết mới để cứu cơn khủng hoảng kinh tế đang đổ ập lên đầu họ. Nhưng cũng không loại trừ phương Tây đang tìm liên minh mới để làm đối trọng với đồng đô la. Chúng ta cũng không loại trừ phương Tây muốn nắm thông tin tình hình tài chính châu Á. 

Ông Obama sẽ thăm Úc vào tháng 5 tới trong chuyến công du 3 quốc gia Đông Á.

Đồng Yuan Trung Hoa cho đến nay vẫn neo đậu tỷ giá ổn định ở mức xung quanh 6.2 Yuan ăn 1 đô la Mỹ. 

Cho đến nay, đồng đô la Mỹ vẫn chiếm 65% dự trữ cho các ngân hàng trung ương trên toàn cầu để bảo hộ mậu dịch và giá trị đồng tiền của quốc gia mình. 15 dự trữ của các ngân hàng trung ương là đồng Euro. Số còn lại là vàng.

Hãy nghe một bài phát biểu của F. William Engdahl về Mầm móng của sự hủy hoại.

Chỉ một lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ về vấn đề Ukraina trong 6 tháng cũng đủ làm cho cường quốc Nga nay nghèo đói và có nguy cơ bạo loạn chính trị.

Thế giới này, Hoa Kỳ là con ong chúa, và Trung Hoa là con ong thợ. Ong chúa muốn sống vương giả thì, cần phải có ong thợ cần mẫn và hy sinh. Ngược lại, ong thợ luôn cam phận làm kẻ sai nha cho ong chúa, để tổ ong là một tập thể đoàn kết và vững bền. Khi ong thợ ra đi, liệu ong chúa có còn là chủ sói của tổ ong?

Thế nhưng, Hoa Kỳ sẽ chuyển trục sang Thái Bình Dương sau 40 năm bỏ nó và sang Trung Đông. Liệu có một bán đảo Crimea như thế ở Đông Á trong tương lai? Liệu có một lệnh trừng phạt như Nga ở Trung Hoa?

Liệu bao lâu nữa đồng Yuan sẽ soán ngôi đồng đô la Mỹ, hay phải khốn đốn như đồng Yên Nhật hồi 1990, và đồng Euro hiện nay? Nhưng chắc chắn một điều là trong vòng 10 năm tới thế giới sẽ có những thay đổi lớn về kinh tế chính trị toàn cầu.

Asia Clinic, 18h23' ngày thứ Tư, 18/3/2015
Bài đọc liên quan:
+ Tứ toàn của Tập Cận Bình bất khả thi
+ Tả, hữu và tương lai toàn cầu
+ Công hữu, tư hữu và hình thái xã hội loài người
+ Cáo chung của thế quyền và thần quyền cực đoan
+ Ukraina đừng tưởng bở

Mặc dù niềm tin tiêu dùng của Hoa Kỳ không như mong đợi chỉ đạt 91.2 điểm. Nhưng sau cú tung 60 tỷ Euro của EU thì chỉ tệ đồng đô la Mỹ tăng vọt đến 100.24 điểm. 

Đồng bạc xanh mạnh đã đánh rớt giá dầu rất mạnh ở cuối tuần xuống chỉ còn $44.84/thùng. Sáng đầu tuần hôm nay giá dầu còn giảm tiếp chỉ còn $43.95/thùng. Nhưng chính quyền Việt Nam lại đưa tin vịt rằng, giá dầu thế giới tăng mạnh nhất trong 6 năm qua, để tăng giá xăng dầu hơn 10%, rồi tiếp tục tăng gía điện 7.5% ngay hôm nay, nhằm cứu sụp đổ kinh tế đang đến tận nóc, sẽ làm sụp đổ đảng cầm quyền.

Giá dầu giảm liên tục từ ngày 13/02/2015 từ $52.50/thùng đến ngày 13/3/2015 chỉ còn $44.84/thùng

Vàng cũng cùng chung số phận rớt giá liên tục, hôm nay chỉ còn $1155.20/ounce. Đồng Euro cũng giảm chỉ còn ăn 1.04 đô la Mỹ.

Tình hình giá dầu giảm không biết có là nguyên nhân chính để ông Putin vắng mặt suốt 13 ngày qua hay không, mặc dù đồng Rub Nga vẫn giữ vững ở mức 62.36 Rub ăn 1 đô la Mỹ. 

Xung quanh tin ông Putin mất tích 11 ngày qua là những thông tin đáng sợ hơn là, Kadyrov (tổng thống chính quyền Chechnya thân Putin) trong những ngày gần đây đã có những nỗ lực đàm phán với nhà cầm quyền Jordany để Ramzan Kadyrov cùng gia đình được nhập lãnh thổ Jordany. Đồng thời, theo báo cáo trước đây, thủ trưởng cơ quan an ninh bảo vệ Kadyrov đã đột nhiên ngã bệnh và ông ta cũng ngừng mọi giao tiếp với bên ngoài.

Càng đáng lo ngại hơn nữa cho Putin là, mới đây cố vấn của Putin, ông Vladislav Surkov cùng đã cùng gia đình vội vã đi Hongkong. Tại sao như vậy thì cả thế giới hoàn toàn không hay biết điều gì sẽ xảy ra. Nhưng việc Putin mất tích thì có rất nhiều giả thuyết đã đặt ra, nào thăm bồ nhí sinh con gái cho Putin ở Thụy Sỹ. Nào là bị lật đổ. Nào là đổ bệnh phải an dưỡng, etc.

Dù gì thì tình hình nước Nga và bản thân ông Putin đang rất nguy hiểm, sau cái chết của đối thủ chính trị Boris Nemtsov là điều cần phải quan tâm. Quan trọng hàng đầu là, yếu tố trừng phạt Nga của Hoa Kỳ và phương Tây với nước Nga trong 6 tháng qua mà tôi đã viết một bài - Ukraina đừng tưởng bở - thì cái chết của ông Nemsov mới là điều đáng để liên quan đến sự mất tích của Putin hơn là tất cả những yếu tố khác.

Trong khi nước Nga bấn loạn thì, Trung Hoa cũng không tốt đẹp gì, họ đang họp quốc hội để đưa ý tưởng tứ toàn của ông Tập Cận Bình cứu nước. Nhưng như tôi đã viết, Tứ toàn là bất khả thi.

Chính vì cả 2 anh lớn của cánh tả đang liu xiu nên đàn em cánh tả cũng lo phải đi trước. Bắt đầu là Cu Ba bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ cách đây 2 tháng. Bây giờ đến Bắc Hàn muốn đổi mới theo kiểu Việt Nam. Nhưng Việt Nam vẫn chậm chân hơn Miến Điện, và hôm nay vẫn loay hoay làm sao thoát cái vòng kim cô mà Trung Hoa đã đặt lên đầu Việt Nam 25 năm qua?

Cách đây 10 năm, khi kinh tế Hoa Kỳ lâm vào khủng hoảng, những gói nới lỏng tín dụng - QE: Quantity Easing - được Fed tung ra làm chỉ tệ đồng đô la rớt dài đến thấp nhất trong lịch sử ở mức 78 điểm. Giá dầu và giá vàng tăng tột đỉnh $140/thùng và vàng $1900/ounce. 

Ông Obama tuyên bố đại khủng hoảng vào năm 2008, một loạt khối ung thư của nền kinh tế Hoa Kỳ phải cắt bỏ. Và chỉ 6 năm sau, ngày nay, kinh tế Hoa Kỳ phụ hồi, kèm theo dầu đá phiến đã làm cho Hoa Kỳ không còn phụ thuộc năng lượng Trung Đông. Giá dầu giảm, cùng với Nga xâm chiếm Crimea ở Ukraina, và kinh tế châu Âu suy thoái.

Giờ đến lúc châu Âu làm lại bài học Hoa Kỳ - nới lỏng tín dụng 1.140 tỷ Euro trong 18 tháng - thì cũng là lúc giá dầu, giá vàng rớt giá, và cánh tả rách ướt tả tơi. Đàn em cánh tả vắt giò lên cổ di tản, ve vản cánh hữu. Liệu chiến lược châu Á Thái Bình Dương - Hoa Kỳ bỏ Trung Đông quay lại Thái Bình Dương sau 40 năm - có là cú đánh quyết liệt cuối cùng để thế giới cộng sản sụp đổ trên toàn thế giới?

Asia Clinic, 8h09' ngày thứ Hai, 16/3/2015

Bài viết của Dr. Shambaugh hiện là Giáo sư về Quan hệ Quốc tế đồng thời giữ chức vụ Giám đốc chương trình Chính sách Trung Quốc tại Đại học George Washington, ông cũng là cộng tác viên cao cấp của Viện Brookings. Những cuốn sách của ông về Trung Quốc gồm “ ĐCS Trung Quốc : sự hao mòn và sự thích ứng”(“China’s Communist Party: Atrophy and Adaptation” and, most recently,) và gần đây nhất là cuốn “ Trung Quốc toàn cầu hóa : một thế lực cục bộ”(“China Goes Global: The Partial Power.”).


GS Divid Shambaugh là một trong số vài chục học giả think tank của Hoa Kỳ, ông cùng với các quan chức phục vụ trong Bộ Quốc phòng Mỹ, CIA, Bộ Ngoại giao, và Hội đồng an ninh quốc gia, làm ra chính sách của Mỹ đối với châu Á, và đặc biệt là đối với Trung Quốc.


Hôm trước mình có đưa nó lên facebook, nay thấy Vietstudy có bài dịch của ông Phạm Gia Minh, nên mang về lưu lại trên blog để bà con đọc chơi nhen. Há há,




Ván bài cuối cùng của ĐCS Trung Quốc đã bắt đầu khi mà những biện pháp tàn nhẫn của Tập Cận Bình chỉ có thể đưa đất nước tiến gần tới tình huống nguy kịch.

Hôm thứ năm tuần này Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc thường niên vừa nhóm họp theo nghi thức đã trở nên quen thuộc. Ước chừng 3 000 đại biểu “ được bầu chọn” trên khắp mọi miền đất nước – từ những nhóm thiểu số trang phục sặc sỡ tới các tỷ phú lịch lãm sẽ gặp mặt trong thời gian một tuần để thảo luận về tình hình đất nước và dường như điều này tạo ra ấn tượng rằng họ đang tham gia vào đời sống chính trị của quốc gia.

Một số người nhìn nhận cuộc tụ họp đầy ấn tượng này là một chỉ dấu cho sức mạnh của hệ thống chính trị Trung Quốc, tuy nhiên thực chất nó lại che dấu những điểm yếu nghiêm trọng. Các chiêu trò chính trị ở Trung Quốc xưa nay thường được ngụy trang dưới lớp vỏ đầy kịch tính với những sự kiện dàn dựng trên sân khấu cho thấy dường như Quốc hội trao quyền lực bền vững cho ĐCS Trung Quốc. Cán bộ nhà nước cũng như dân thường đều biết rằng họ phải tuân thủ những nghi thức đó, tức là phải vui vẻ tham gia và nhắc lại như vẹt các khẩu hiệu chính thức. Lối hành xử như vậy ở Trung Quốc có cái tên là "biểu thái" (biaotai – biểu lộ thái độ), thực ra nó có ý nghĩa chỉ hơn một chút hành động phục tùng mang tính tượng trưng. 

Nếu không để ý tới vẻ bên ngoài thì về thực chất ĐCS Trung Quốc đang rất suy yếu và không ai biết điều này hơn chính Đảng. Con người đầy quyền lực của Trung Hoa - Tập Cận Bình đang hy vọng rằng các biện pháp trừng trị thẳng tay bất đồng chính kiến và tham nhũng sẽ giúp chống đỡ một sự sụp đổ vai trò lãnh đạo của Đảng.  Tập Cận Bình xác định rằng phải tránh trở thành một Gorbachov của Trung Hoa bởi lẽ Gorbachov đã điều hành sự tan rã của Đảng CS LX. Thế nhưng thay vì trở thành nhân vật tương phản với Gorbachov, Tập Cận Bình kết cục có thể lại tạo ra cùng một hậu quả. Sự chuyên quyền của họ Tập gây sang chấn nghiêm trọng toàn bộ hệ thống xã hội Trung Quốc và đang đưa đất nước tới gần tình huống nguy kịch.

Dự đoán sự ra đi của các chế độ chuyên chế luôn là việc đầy rủi ro, phi phỏng. Một số chuyên gia Phương Tây nhìn trước sự sụp đổ của Liên Xô trước khi nó xảy ra vào năm 1991; tuy nhiên CIA lại hoàn toàn bỏ qua việc này. Sự tan rã của các quốc gia cộng sản Đông Âu hai năm trước đó cũng đã từng bị chế nhạo như một suy nghĩ mơ mộng của những kẻ chống cộng cho tới khi việc này trở thành hiện thực. Các cuộc “cách mạng màu” trong thời kỳ hậu Liên Xô ở Gruzia, Ucrain và Kyrgyzstan từ năm 2003 tới 2005 cũng như cuộc nổi dậy mùa Xuân Ả Rập năm 2011 đều bùng nổ ngoài mọi dự đoán.

Các nhà quan sát tình hình Trung Quốc đang rất để ý tới những dấu hiệu có tính chất làm lộ chân tướng mục ruỗng và suy đồi của chế độ đang diễn ra kể từ khi xảy ra sự kiện trên quảng trường Thiên An Môn năm 1989, khi mà chế độ đã trên bờ suy vong. Từ thời điểm đó đến nay một số nhà Trung Hoa học đã đánh cược uy tín nghề nghiệp của mình khi khẳng định rằng sự sụp đổ của ĐCS Trung Quốc trong vai trò lãnh đạo là không thể tránh khỏi. Những người khác thì tỏ ra thận trọng hơn, trong đó có tôi. Thế nhưng thời thế ở Trung Quốc đã thay đổi và những phân tích của chúng ta cũng cần bám sát thời cuộc.

Ván bài cuối cùng với sự lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc đã bắt đầu, tôi tin là như vậy và điều này đã tiến triển xa hơn cái mức mà nhiều người suy nghĩ. Tất nhiên chúng ta không biết con đường đi từ nay cho tới khi nó kết thúc sẽ có hình dạng ra sao. Có thể nó sẽ rất không ổn định và lộn xộn nhưng cho tới khi hệ thống bắt đầu tháo gỡ các nút thắt một cách rõ ràng,rành mạch thì các yếu tố nội tại vẫn tiếp tục đóng vai trò và vì vậy chúng sẽ ảnh hưởng tới bộ mặt của sự ổn định.

Sự cầm quyền của ĐCS Trung Quốc khó có thể kết thúc một cách êm ả. Một sự kiện đơn lẻ khó có thể gây nên sự khép lại hòa bình của một chế độ. Điều dễ xảy ra hơn đó là sự ra đi của nó sẽ kéo dài, hỗn độn và bạo lực. Tôi không loại trừ khả năng Tập Cận Bình bị hạ bệ trong cuộc tranh giành quyền lực hoặc bởi một cú đảo chính cung đình (un coup d’état). Chiến dịch chống tham nhũng hăng hái của họ Tập đã trở thành tiêu điểm tuần này của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc cho thấy ông đang dùng quá đà sở đoản của mình và chọc tức một cách sâu sắc các cử tri là những nhân vật chủ chốt trong Đảng, Nhà nước, quân đội và giới kinh doanh.

Người Trung Hoa có câu ngạn ngữ, waiying, neiruan- ngoài cứng, trong mềm. Tập Cận Bình là một nhà lãnh đạo quả thực là mạnh mẽ, tràn đầy sức thuyết phục và tự tin. Thế nhưng nhân cách cứng rắn đó lại đi ngược với hệ thống Đảng và chính trị vốn hết sức mong manh trong nội bộ. Chúng ta hãy cùng xem xét 5 dấu hiệu có tính thuyết phục thể hiện tính dễ tổn thương của chế độ và yếu kém của hệ thống Đảng CS Trung Quốc. 

Thứ nhất, giới tinh hoa của nền kinh tế Trung Quốc đang đặt một chân bên ngoài cửa nhà và họ luôn sẵn sàng rời bỏ hàng loạt nếu như hệ thống thực sự bắt đầu sụp đổ. Năm 2014 Viện nghiên cứu Hurun ở Thượng hải chuyên theo dõi vấn đề người giàu Trung Quốc đã kết luận rằng 64% người có của Trung Quốc đã di cư hoặc đang lên kế hoạch di cư khỏi Trung Quốc. Người giàu Trung Quốc gửi con cái đi học ở nước ngoài với con số kỷ lục (bản thân sự việc này đã là một cáo trạng về chất lượng của hệ thống Đại học Trung Quốc).

Ngay trong tuần này báo chí đăng tin các đặc vụ Liên bang đã lục soát một số địa điểm ở Nam California nơi mà chính quyền Mỹ khẳng định rằng chúng có liên quan tới loại hình kinh doanh du lịch đạt giá trị nhiều triệu USD nhằm đưa hàng ngàn sản phụ Trung Quốc sang sinh con tại Mỹ để rồi sau đó quay trở lại Trung Quốc với đứa con là công dân Hoa Kỳ.

Người giàu Trung Quốc còn mua bất động sản ở nước ngoài ở quy mô và mức giá kỷ lục, họ chuyển tài sản ra nước ngoài, thường là những nơi được coi là dễ trốn thuế và mượn các công ty làm bình phong.

Trong khi đó, Bắc kinh đang nỗ lực đưa về nước số lượng lớn những kẻ chạy trốn mang tiền ra sống ở nước ngoài. Một khi mà giới tinh hoa của đất nước – trong đó có nhiều đảng viên CS rời bỏ tổ quốc với số lượng lớn thì chính nó đã cho thấy dấu hiệu xác đáng về sự mất lòng tin vào chế độ và tương lai của đất nước.

Thứ hai, khi lên cầm quyền năm 2012 Tập Cận Bình đã mạnh mẽ tăng cường làn sóng trấn áp chính trị vốn đã được khởi động từ năm 2009 trên khắp Trung Quốc. Mục tiêu hay đối tượng được ngắm tới là báo chí, truyền thông xã hội, phim ảnh, văn hóa - nghệ thuật, các nhóm tôn giáo, Internet, các nhà trí thức, người Tây Tạng và Uighur, những nhân vật bất đồng chính kiến, luật sư, các tổ chức phi chính phủ, sinh viên Đại học và lĩnh vực sách giáo khoa. Ban chấp hành Trung ương ĐCS đã ra một chỉ thị hà khắc được biết tới dưới cái tên Văn kiện số 9 phổ biến trong toàn hệ thống ĐCS từ trên xuống dưới năm 2013, yêu cầu mọi đơn vị phải truy tìm cho ra những biểu hiện tán đồng “ các giá trị phổ quát của phương Tây “ dù còn manh nha, đó là nền dân chủ pháp trị, xã hội dân sự, tự do báo chí và trào lưu kinh tế Tân-tự do (Neoliberal Economics).

Một nhà nước yên ổn và tự tin sẽ không phải tiến hành trấn áp, cấm đoán như vậy. Đó chính là triệu chứng của sự bất an và lo sợ của lãnh đạo ĐCS. 

Thứ ba, cho dù nhiều người trung thành với chế độ vẫn hành động xu thời nhưng khó bỏ qua những biểu hiện giả tạo mang tính diễn kịch đang lan khắp bộ máy chính trị trong mấy năm gần đây.

Mùa hè vừa qua, tôi là một trong số ít khách ngoại quốc (và cũng là người Mỹ duy nhất) tham dự cuộc hội thảo về “ Giấc mơ Trung Hoa” theo luận thuyết của Tập Cận Bình tại một cơ quan nghiên cứu của ĐCS Trung Quốc ở Bắc kinh. Chúng tôi ngồi suốt hai ngày, đầu óc bị tê liệt vì phải nghe liên tục hơn hai chục học giả của Đảng đọc tham luận, tuy nhiên bộ mặt của những người thuyết trình đều lạnh lùng vô cảm, ngôn ngữ cơ thể cho thấy một sự cứng nhắc và nỗi ngán ngẩm của họ rất dễ cảm nhận được từ bên ngoài. Họ làm ra vẻ phục tùng Đảng và những câu thần chú cuối cùng của lãnh đạo nhưng rõ ràng là công tác tuyên truyền đã mất hiệu lực cho nên Hoàng đế bây giờ chẳng còn y phục trên người.

Tháng 12, tôi trở lại Bắc kinh để dự cuộc hội thảo của trường Đảng trung ương, một định chế cao nhất của ĐCS trong việc đưa ra những chỉ đạo mang tính học thuyết. Và một lần nữa các quan chức cao cấp nhất của đất nước cùng các chuyên gia về chính sách đối ngoại lại đọc thuộc lòng kho khẩu hiệu, chính xác tới từng từ. Có lần trong bữa trưa, tôi ghé thăm gian hàng sách của trường, một địa chỉ dừng chân quan trọng để biết các cán bộ lãnh đạo Trung Quốc ngày nay được đào tạo điều gì. Những cuốn tuyển tập trên giá sách từ “các tác phẩm chọn lọc của Lê Nin” tới hồi ký của cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice và trên bàn ngay cửa ra vào, những cuốn sách nhỏ của Tập Cận Bình quảng bá cho chiến dịch của ông ta về “ Công tác quần chúng” - hay mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân được xếp cao chất ngất. Tôi hỏi, “ sách này bán thế nào ?” Cô bán hàng trả lời “ Ô, không bán được nhiều, chúng tôi lại mang chúng đi ấy mà”“. Độ cao của chồng sách đã cho thấy khó có thể tin được cuốn sách đó thu hút độc giả.

Thứ tư, nạn tham nhũng làm thối nát bộ máy ĐCS, chính quyền và quân đội cũng đã thâm nhập vào toàn bộ xã hội Trung Quốc ngày nay. Chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình kéo dài được lâu và cũng khốc liệt hơn những đợt trước đây nhưng không một chiến dịch nào có khả năng loại trừ vấn nạn này vì nó đã bắt rễ một cách ngoan cố vào hệ thống độc Đảng, vào mạng lưới người bảo trợ - khách hàng (mang tính Mafia – ND) và một nền kinh tế hoàn toàn thiếu vắng sự minh bạch cùng một bộ máy truyền thông do Nhà nước quản lý không mang tính thượng tôn Pháp luật.

Hơn thế nữa, chiến dịch chống tham nhũng, hối lộ của Tập Cận Bình được đưa ra nhằm thanh lọc có lựa chọn, chủ yếu nhắm vào các đồng sự và chiến hữu của cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân. Năm nay đã 88 tuổi họ Giang vẫn được đánh giá như Thái thượng Hoàng trong nền chính trị Trung Quốc. Truy quét mạng lưới đặt dưới sự bảo trợ của họ Giang trong khi ông ta còn sống là một sự mạo hiểm lớn đối với Tập Cận Bình, đặc biệt là khi ông có vẻ chưa tập hợp được phe phái gồm những chiến hữu trung thành tới mức đủ mạnh để củng cố quyền lực. Một vấn đề khác nữa là Tập Cận Bình là con trai của thế hệ đầu tiên các nhà cách mạng Trung Quốc, là một trong những “ Thái tử “ cho nên các mối liên hệ chính trị của ông ta chủ yếu được mở rộng đối với các “ Thái tử” khác. Thế hệ thứ 2 này đang bị xỉ vả công khai hiện nay ở Trung Quốc. 

Cuối cùng, nền kinh tế Trung Quốc dưới con mắt của phương Tây là một cỗ xe Gia Ga nát không thể dừng lại (thần thoại Ấn độ có chuyện chiếc xe chở vị Thánh tên Giaganat diễu trên phố và những người cuồng tín thường đổ xô vào xe để xe cán chết – ý bóng chỉ lực lượng khủng khiếp đi đến đâu gây chết chóc đến đó – ND). Nền kinh tế đó đang bị sa lầy trong một chuỗi những cái bẫy mang tính hệ thống mà không dễ thoát ra. Tháng 11/2013 Tập Cận Bình chủ tọa Hội nghị Trung ương 3 ĐCS Trung Quốc, Hội nghị đã công bố những chương trình cải cách kinh tế đồ sộ nhưng cho tới nay chúng vẫn còn nằm yên trên bệ phóng. Vâng, các khoản chi cho tiêu dùng có tăng, nạn thảm đỏ có giảm cùng với một số cải cách thuế được thực hiện nhưng nhìn chung các mục tiêu đầy tham vọng của Tập Cận Bình đã chết yểu. Chương trình cải cách đã thách thức các nhóm lợi ích hùng mạnh, cố thủ ở nơi thâm căn cố đế - đó là những doanh nghiệp nhà nước và đội ngũ quan chức Đảng ở địa phương và họ đã không úp mở ngăn cản việc thực thi cải cách.

Năm vết rạn nứt hiển hiện và ngày một gia tăng trong hệ thống quản lý Trung Quốc chỉ có thể khắc phục thông qua cải cách chính trị. Cho tới khi và chỉ khi Trung Quốc nới lỏng việc quản lý hà khắc hệ thống chính trị, quốc gia này mới có thể trở nên một xã hội sáng tạo và một nền “kinh tế tri thức” như mục tiêu cải cách mà Hội nghị trung ương 3 đã đặt ra. Chính hệ thống chính trị hiện nay mới là trở ngại chủ yếu đối với các cải cách chính trị và xã hội Trung Quốc. Nếu như Tập Cận Bình và các lãnh đạo ĐCS Trung Quốc không nới lỏng sự kìm kẹp thì họ chắc chắn sẽ phải đối mặt với số phận mà họ không mong muốn.

Trong mấy thập niên sau khi Liên Xô tan rã, giới lãnh đạo của Trung Quốc luôn bị ám ảnh bởi sự sụp đổ của người đồng chí cộng sản khổng lồ này. Hàng trăm bài phân tích của giới nghiên cứu Trung Quốc đã mổ xẻ các nguyên nhân dẫn tới sự tan rã đó.

“Giấc mơ Trung Hoa” của Tập Cận Bình trên thực tế đang cố gắng tránh cơn ác mộng Liên Xô. Vài tháng trước nhiệm kỳ lãnh đạo của mình, họ Tập đã có một bài phát biểu nội bộ về sự sụp đổ của Liên Xô, lên án sự phản bội của Gorbachov và cho rằng Moscow thiếu “ một người đàn ông đích thực” có khả năng chống lại người lãnh đạo cuối cùng mang tư tưởng cải tổ đó. Làn sóng đàn áp do Tập Cận Bình khởi xướng và chỉ đạo hiện nay cho thấy ông ta chống lại đường lối cải tổ và minh bạch kiểu Gorbachov. Thay vì cởi mở, Tập Cận Bình lại tăng cường kiểm soát tư tưởng, nền kinh tế và cả những đối thủ cạnh tranh trong nội bộ Đảng.Tuy vậy phản công và đàn áp chưa phải là lựa chọn duy nhất của họ Tập.

 Những người tiền nhiệm của ông ta như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào lại rút ra những bài học rất khác từ sự sụp đổ của Liên Xô. Từ năm 2000 tới 2008 họ đã thể chế hóa một số chủ trương nhằm nới lỏng và cởi mở hệ thống cùng với việc thực hiện cải cách chính trị một cách thận trọng và có giới hạn. Họ đã củng cố các cấp ủy ở địa phương và đưa vào thử nghiệm việc bầu vị trí bí thư Đảng với nhiều ứng viên. Hai ông cũng đã thâu nạp nhiều doanh nhân và trí thức vào Đảng, mở rộng hiệp thương giữa Đảng và các nhóm ngoài Đảng đồng thời làm cho các biên bản họp Bộ chính trị thêm minh bạch. Họ đã cải thiện cơ chế phản hồi trong Đảng, thực thi nhiều hơn các tiêu chí tuyển chọn nhân tài để đánh giá và đề bạt, thiết lập hệ thống đào tạo ủy nhiệm cán bộ trung cấp cho toàn bộ 45 triệu người được quy hoạch nguồn. Các ông cũng đã làm cho có hiệu lực những quy chế về hưu trí, luân chuyển công chức và sĩ quan quân đội 2 năm một lần.

Trên thực tế họ Giang và họ Hồ đã suy nghĩ để quản lý sự thay đổi thay vì chống lại nó. Tuy nhiên Tập Cận Bình không chấp nhận một điểm nào cả. Kể từ năm 2009 (khi mà nhà lãnh đạo có đầu óc cởi mở trước đây là Hồ Cẩm Đào đã thay đổi đường lối và bắt đầu chính sách khẩn cấp), chính quyền Trung Quốc ngày càng trở nên bất an nên đã cho ngừng thực thi các cải cách chính trị (trừ việc cải cách đào tạo cán bộ). Những cải cách này đã được một thủ túc chính trị của Giang Trạch Dân đạo diễn, đó là Phó Chủ tịch Trung Quốc Tằng Khánh Hồng (Zeng Qinghong). Ông này đã nghỉ hưu từ 2008 nhưng hiện đang bị nghi vấn tham nhũng trong chiến dịch “ đả hổ diệt ruồi “ của họ Tập. Điều này cho thấy Tập Cận Bình thù địch với các biện pháp cải cách nhằm giảm nhẹ con bệnh của một hệ thống đang đổ nát.

Một vài chuyên gia cho rằng chiến thuật tàn nhẫn của họ Tập sẽ báo trước một xu hướng cải cách cởi mở hơn trong những năm sau này trong nhiệm kỳ của ông. Riêng tôi thì không đồng tình bởi lẽ nhà lãnh đạo này và chế độ của ông ta luôn quan niệm chính trị là một cuộc chơi có tổng bằng 0 (tức là hoặc thắng hoặc thua chứ không có tình thế cả hai cùng thắng Win- Win – ND). Do vậy nới lỏng sự quản lý theo họ, chắc chắn sẽ là một bước tiến tới sự sụp đổ của cả hệ thống trong đó có họ.

Họ còn có quan điểm theo thuyết âm mưu cho rằng Hoa Kỳ đang nỗ lực hành động nhằm lật đổ sự lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc. Do vậy không có chỉ dấu nào cho thấy những cải cách sẽ quay trở lại ở Trung Quốc.  
Chúng ta không thể đoán trước khi nào thì chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc sẽ sụp đổ nhưng cũng không khó để kết luận rằng chúng ta đang làm chứng cho giai đoạn cuối cùng của nó. ĐCS Trung Quốc đứng thứ 2 trên thế giới về thời gian cầm quyền (chỉ sau có Bắc Triều Tiên) và không có đảng chính trị nào có thể cầm quyền mãi.

Nhìn về phía trước, những nhà quan sát Trung Quốc cần phải tập trung sự chú ý vào các công cụ của chế độ phục vụ việc cai trị và những người được giao phó sử dụng các công cụ đó. Một số lớn công dân và đảng viên CS Trung Quốc đã lựa chọn bằng đôi chân để rời bỏ tổ quốc hoặc thể hiện hành động giả dối của mình bằng cách làm ra vẻ tuân thủ các chỉ thị của Đảng.

Chúng ta cần quan sát cái ngày mà những nhân viên tuyên truyền của chế độ và bộ máy an ninh nội bộ sẽ trở nên không nghiêm chỉnh hoặc lỏng lẻo trong việc thực thi các lệnh của Đảng - thảng hoặc khi mà họ bắt đầu trở nên đồng cảm với những kẻ bất đồng chính kiến như nhân viên an ninh Đông Đức trong cuốn phim “ Những cuộc đời của người khác”  khi anh này thông cảm với chính đối tượng bị theo dõi của mình.

Một khi sự thấu cảm của con người đã manh nha chiến thắng bộ máy cầm quyền cứng nhắc, giáo điều thì ván bài cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc mới thực sự bắt đầu.

Phạm Gia Minh dịch từ The Coming Chinese Crackup 
Wall Street Journal (WSJ 6-3-14)
Đã đăng trên Vietstudy: http://viet-studies.info/kinhte/ChinaCrackup_Shambaugh.htm 
Thăng long - Hà nội 8 tháng 3 /2015.
Vậy là con tin người Nhật thứ hai - ông Kenji Goto - đã bị nhà nước Hồi giáo ISIS chặt đầu đêm qua. Nội các Nhật họp khẩn cấp, khi ISIS tung clip thông báo lên mạng, và cho biết Nhật Bản là nước nằm trong danh sách họ đặt mục tiêu khủng bố. Thế giới tả khuynh luôn ác độc và duy ý chí, iSIS là một trong số nhà nước thần quyền tả khuynh cực đoan. 

Hoa Kỳ tuyên bố sẽ cùng Nhật Bản tiêu diệt các chiến binh Hồi giáo của nhà nước Hồi giáo dựng ra.

Cũng trong hộm qua nhà nước Hồi Giáo ISIS đã công nhận thất thủ tại thành phố Kobani, Syria. Nhưng họ tuyên bố là sẽ tấn công chiếm lại nơi này.

Bản đồ thành phố Kobani nằm ở biên giới Thỗ - Syria.

Như chúng ta biết Kobani là thành phố giáp biên giới với Thỗ Nhĩ Kỳ. Thỗ Nhĩ Kỳ là bạn đồng minh của phương Tây và Hoa Kỳ. Thành phố Kobani quan trọng trong huyết mạch lưu thông, và quan trọng hơn nữa là trữ lượng dầu khí ở đây rất lớn, và là nguồn cung cấp tài chính lớn và chủ yếu cho các chiến binh Hồi Giáo. 

Có nhiều lý do mà cho tới nay, nhà nước Hồi giáo vẫn còn tồn tại, trong khi Hoa Kỳ và các quốc gia tuyên bố sẽ ra tay tiêu diệt.

Lý do đầu tiên là, sự tồn tại của các chiến binh Hồi giáo ở vùng biên giới này cũng là một nguồn thu lợi cho Thỗ Nhĩ Kỳ trong cuộc chiến của ISIS với Syria. Nó vừa làm suy yếu Syria - cái gai trong mắt phương Tây, nhưng là chư hầu của Nga tại Địa Trung Hải. Thỗ Nhĩ Kỳ đang cần vực dậy nền kinh tế yếu kém, cuộc chiến này sẽ giúp Thỗ cũng giống như Thái Lan, Singapore và các quốc gia Đông Nam Á đã giàu lên và phát triển trong những thập niên 1960-1970 nhờ vào Việt Nam nội chiến.

Lý do quan trọng nhất và thứ hai là, Thỗ Nhĩ Kỳ và các nước phương Tây Mỹ không tiêu diệt các chiến binh Hồi Giáo, và cắt nguồn cung cấp tài chính của họ ra khỏi thành phố này còn là một lý do phức tạp liên quan tới Nga, Ukraina và Syria. Vì ISIS bán dầu thô bằng tiền mặt, với giá rất rẻ, chỉ < $25/thùng! Một thế trận giằng co cũng vì Mỹ và phương Tây muốn giá dầu xuống thấp hơn nữa, và làm suy yếu Nga hơn nữa trong cuộc chiến này trước khi hạ gục Nga.

Chính vì giá dầu từ các chiến binh Hồi Giáo rẻ mạt, nên sự tồn tại của họ tại Kobani là cần thiết trong chiến lược đánh Nga qua giá dầu thấp của Hoa Kỳ và phương Tây. Ngoài ra, nó cũng giúp một phần rất lớn cho cung cấp dầu và khí gas cho phương Tây trong mùa Đông này.

Muốn khuất phục Syria thì không còn cách nào hơn là phải đánh cái đầu con rắn Nga.

Cuộc chiến giữa chính phủ Syria và chiến binh Hồi giáo của nhà nước Hồi giáo ISIS tại thành phố Kobani

Chiến sự với các chiến Binh Hồi Giáo ISIS sẽ kết thúc khi và chỉ khi Nga thúc thủ trước trừng phạt của Phương Tây và Hoa Kỳ. Lúc đó làm thịt Syria là chuyện rất nhỏ. Tôi tiên lượng thời gian phải tính hết năm 2015 và có thể sẽ đến 2016.

Hãy chờ xem.

Asia Clinic, 11h39' Chúa nhựt, 01/02/2015
Bài đọc liên quan:


Sau 6 năm đảng Dân Chủ năm quyền điều hành quốc gia, Hoa Kỳ đã vượt qua khủng hoảng một cách thần kỳ, khi nền kinh tế Mỹ tăng trưởng nhanh hơn dự kiến, với tốc độ nhanh nhất kể từ năm 2003. Nó đã thúc đẩy mức độ khả quan về tạo ra công ăn việc làm. Nhận lãnh một nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp khoảng 10% từ tay của đảng Cộng Hòa, nay chỉ còn 5,6%. Nhận lãnh một cuộc đại suy thoái và phá sản hàng loạt tổ chức tài chính lớn như Lehman Brothers vào năm 2008, để hôm nay Tổng Thống Obama có bài phát biểu kiêu hãnh: "Bóng tối khủng hoảng đã qua" hôm 21/01/2015.

Nhìn lại 6 năm nước Mỹ vượt qua đại suy thoái lớn nhất kể từ 1933 đến nay chúng ta có 3 bài học cần đúc kết về Hoa Kỳ suốt trong quá trình hình thành và phát triển của cường quốc này, để chúng ta có hướng đi, mà phải bắt tay vào làm việc với một chương mới - như lời ông Obama nói: "A brighter future is ours to write. Let's begin this new chapter -- together -- and let's start the work right now."

Bài học thứ nhất: một nền chính trị và văn hóa dễ chuyển đổi

Với một nền chính trị đa nguyên tản quyền, trao quyền sở hữu cá nhân đến gần như tuyệt đối dưới sự điều hành của tam quyền phân lập. Nó đã giúp cho thể chế của Hoa Kỳ nhanh thay đổi để đáp ứng với tình hình mới.

Với một nền văn hóa đa dạng của hầu hết các chủng tộc trên thế giới - mà tôi đã viết: Hoa Kỳ là cái sọt rác tinh hoa của toàn cầu. Cho nên nền chính trị đa nguyên tản quyền và tôn trọng sự khác biệt đã giúp cho sự hòa hợp, hòa giải lối sống, phong tục, tập quán khác nhau dưới một nền luật pháp tam quyền phân lập, để thúc đẩy sức mạnh cá nhân của mỗi con người đến tối ưu.

Đảng Cộng Hòa chú trọng đối ngoại, giao quyền cai quản nội địa đến từng tiểu bang. Ngược lại, đảng Dân Chủ chú trọng đối nội, nắm quyền điều hành quốc gia đến từng tiểu bang, đối ngoại là nhằm củng cố kinh tế và sức mạnh của Hoa Kỳ, khi cần.

Nếu 8 năm trước đó, chính quyền của ông Bush con đã chú tâm đến những cuộc chiến chống khủng bố và ở Trung Đông bằng quyền lực cứng; giảm thuế cho giới giàu có để tăng đầu tư đưa đến đóng băng bất động sản và đại suy thoái kinh tế. Ngược lại, 6 năm qua ông Obama đã chú trọng đến giáo dục, y tế, tăng thuế nhà giàu và trung lưu, và chăm lo thúc đẩy kinh tế trong nước Mỹ. Vấn đề đối ngoại chú trọng đến lợi ích kinh tế và quyền lực mềm của Hoa Kỳ, bằng những xoay trục, rút dần quân ở Trung Đông; kêu gọi sự hợp tác với phương Tây và toàn cầu chống khủng bố.

Mỗi chính sách đều có mặt lợi, và mặt hại. Song áp dụng chính sách của mỗi đảng phái nhuần nhuyễn và uyển chuyển đúng thời kỳ lại làm cho nước Mỹ dễ thay đổi, nhằm phù hợp với tình hình mới là "nghệ thuật của sự có thể" mà chỉ Hoa Kỳ mới có. Ngay cả các quốc gia tiên tiến ở phương Tây - cựu lục địa - cũng không thể có được sự đa dạng, phong phú và dễ chuyển đổi như Hoa Kỳ.

Bài học thứ Hai: Tài nguyên vô tận và vô giá của một quốc gia là con người

Với việc tiên phong giao quyền tự trị đại học từ thế kỷ XIX đến nay, và với chính sách chăm lo giáo dục, y tế để tái tạo sức lao động và thúc đẩy hết tiềm năng vô tận của con người, chính quyền Hoa Kỳ luôn cho ra đời những sáng tạo đi trước thời đại.

Với thể chế tư hữu đến mọi người dân, Hoa Kỳ là nơi tạo mọi điều kiện tốt nhất cho công dân Hoa Kỳ phát triển đến tối ưu nhất có thể. Ở Hoa Kỳ, một anh thợ hớt tóc, hay một công nhân phụ hồ cũng có thể sống bằng sự cần cù của mình có đời sống không thua tầng lớp trung lưu làm việc cho chính phủ, hoặc trường đại học.

Sáng kiến tìm ra dầu đá phiến đã được manh nha từ 20 năm trước, hôm nay nó đã biến Hoa Kỳ từ một quốc gia phụ thuộc về năng lượng, do tiêu thụ năng lượng 20% toàn cầu, trở thành quốc gia sản xuất dầu mỏ số 1 thế giới, độc lập với thế giới về năng lượng. Nó đã giúp giá dầu thế giới trong khủng hoảng kinh tế có lúc lên đến 140 đô la 1 thùng, chỉ trong 6 tháng qua giá dầu chỉ còn khoảng 47 đô la 1 thùng. Chưa hết, chế ra một sản phẩm là nguồn năng lượng nhiệt hạch như mặt trời đang là hiện thực, để con người giảm sự lệ thuộc dầu hỏa, khi trữ lượng dầu thế giới đang cạn dần.

Cái văn hóa dễ chuyển đổi làm cho người dân Hoa Kỳ dễ dàng gạt bỏ cái cũ đã lỗi thời, dù đang có thu nhập bền vững, để làm ra cái mới có lợi nhuận cao hơn. Những thế hệ phần mềm Microsoft thi nhau ra đời; những Iphone và Ipad các thế hệ nối tiếp nhau ra đời; những xe hơi sử dụng pin như Tesla Motors ra đời; một thời kỳ mới với phân sinh học cải thiện môi trường, v.v... đã minh chứng nguồn tài nguyên vô tận là con người đã được chính trị và văn hóa giáo dục Hoa Kỳ khai thác triệt để.

Từ 71 năm qua, khi thế giới cánh hữu trao quyền điều hành thế giới, nhiệm vụ rất nặng nề, nhưng tất cả những nhiệm vụ ấy đều được giải quyết tốt là nhờ vào một thể chế chính trị kinh tế Hoa Kỳ biết khai thác sức mạnh của con người trên mọi lĩnh vực.

Bài học thứ ba: Chọn nhân tài để lãnh đạo quốc gia

Hoa Kỳ không thiếu tài nguyên thiên nhiên ân sủng, nhưng họ không như các quốc gia khác như Nga, Trung Hoa, Việt Nam, Nigeria, Venezuela, v.v... chỉ biết chủ yếu dựa vào bán tài nguyên thiên nhiên để phát triển, mà thậm chí họ còn mua thêm sản phẩm như dầu từ các quốc gia khác để dự trữ và tiêu thụ. Sức mạnh của Hoa Kỳ là sức mạnh của sự thịnh vượng do Andrew Carnegie đưa ra vào năm 1889, như một thánh kinh phúc âm cho từng con người sống trên trái đất này - sức sáng tạo và tính nhân bản của con người.

Hoa Kỳ không thiếu nhân tài, vì Hoa Kỳ là cái sọt rác của tinh hoa thế giới quy tụ về. Hoa Kỳ cũng đã trải qua bao đau đớn kéo dài hơn 100 năm thời kỳ phân biệt chủng tộc, chiếm hữu nô lệ. Nhưng Hoa Kỳ cũng là quốc gia tiên phong xóa bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ, và cũng là quốc gia đầu tiên của thế giới tiên tiến chọn lãnh đạo quốc gia là người da màu, vì tài năng, và vì quốc gia dân tộc. Họ đã không nhầm khi chọn Obama, vị tổng thống da màu đầu tiên của Hoa Kỳ, để ước mơ của Martin Lutherking trở thành hiện thực.

Không ai giỏi tất cả mọi lĩnh vực ở thế giới mà kiến thức loài người mỗi ngày, mỗi giờ luôn có phát minh như thời chúng ta đang sống. Nhưng một nhà lãnh đạo tài giỏi là biết quy tụ con người tài năng quanh mình, và biết dùng người giỏi hơn mình, để biến nguy nan thành cơ hội cho phát triển.. Vì trong nguy cơ luôn tiềm tàng cơ hội tốt. Obama đã làm được điều này, ông xứng đáng với giải Nobel Hòa Bình đã được trao năm 2009, không chỉ vì ông thuyết phục được nhân dân Mỹ hãy chọn người da màu làm lãnh đạo thế giới nói chung và Hoa Kỳ nói riêng, mà ông còn là một lạnh đạo tài năng đưa Hoa Kỳ ra khỏi vũng lầy đại suy thoái.

Kết

Không phải ngẫu nhiên mà một quốc gia như Hoa Kỳ sau khi ra đời chỉ 168 năm - 1776 đến 1944 - đã trở thành cường quốc số 1 thế giới. Ba bài học quý giá này không chỉ giúp Hoa Kỳ vượt lên trên tất cả các quốc gia khác trên thế giới, mà còn là 3 yếu tố luôn đi theo Hoa Kỳ trong lúc nguy nan, họ biết biến thành cơ hội. 

Asia Clinic, 11h32' ngày thứ Sáu, 23/01/2015
Bài đọc liên quan:

Sàn chứng khoán NYSE kết thúc năm 2014 với giá vàng giảm $17.10 mỗi ounce. Chốt giá ở mức $1182.90/ounce. So với 1 năm trước vàng chỉ giảm đúng $22.60 mỗi ounce. 

Trong khi đó, giá dầu thô chốt giá ở mức $53.71/thùng giảm hơn $40/thùng so với ngày cuối năm 2013. Giá dầu thô giảm là do kết quả của sự ra đời kỹ thuật khai thác dầu từ đá phiến của Hoa Kỳ. Sự cạnh tranh thị trường dầu hỏa giữa khối Ả Rập và Hoa Kỳ đã làm giá dầu sụt giảm nhanh. Trong bối cảnh đó, sự kiện Nga chiếm Crimea của Ukraina chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, và kinh tế Nga sụt giảm do giá dầu xuống cũng chỉ là một sự ngẫu nhiên hợp lý.

Vì kinh tế Mỹ phục hồi với tăng trưởng ngoài dự kiến ở mức 5%, nên chỉ tệ đồng đô la mạnh ở mức 90.28, tăng hơn 3 điểm so với cùng ngày năm ngoái. Chính vì thế và vì việc Mỹ và châu Âu trừng phạt Nga mà, đồng Rub Nga tiếp tục mất giá với 60.54 Rub mới ăn được 1 đô la Mỹ, so với ngày 31/12/2013 thì Rub Nga mất giá hơn 27 điểm so với đồng đô la Mỹ - 32.8 rub ăn 1 đô la ở ngày 31/12/2013. So với hôm qua, đồng Rub Nga tiếp tục mất thêm gần 5 giá. Nó tiên lượng rất xấu cho kinh tế Nga năm 2015. Vì dầu sẽ tiếp tục giảm cho đến khi giá khai thác 1 thùng dầu thô từ đá phiến không có lãi - khoảng $37/thùng. Lúc đó, các mỏ khai thác đá phiến sẽ ngưng hoạt động, và giá dầu sẽ tăng trở lại. Nhưng liệu kinh tế nước Nga có chịu được đến lúc đó?

Nó cũng tiên lượng năm 2015 rất căng thẳng giữa 2 phe hắc bạch khi kinh tế Nga, châu Âu suy thoái. Mọi việc không thể lường được là chiến tranh khu vực có thể xảy ra hay không?

Tình hình các cường quốc phân tranh ở biển và các vùng lãnh thổ lâng bang đã dẫn đến nhiều căng thẳng ở các khu vực: Đông Âu, Trung Đông, Bắc Phi và Đông Á. Chỉ duy nhất ở châu Mỹ và Úc Châu là ổn định, vì những lục địa này tách rời ra khỏi cựu lục địa nhờ những đại dương. 

Cũng vì lý do các cường quốc phân tranh mà, có giả thiết đưa ra rằng vì các cường quốc phân tranh mà mới có các vụ rơi máy bay liên tục gần đây của các hãng hàng không Malaysia và Indonesia. Dù là lý do gì, thì chắc chắn rằng hành khách đi máy bay lo sợ về phương tiện an toàn nhất trong giao thông này. Và các quốc gia Malaysia và Indonesia sẽ khó khăn để vực nền du lịch của mình.

Thật nhỏ bé khi chúng ta ngồi trên máy bay nhìn xuống trái đất. Và những gì chúng ta vẫn tự hào là những công trình đồ sộ mà con người làm ra trên hành tinh xanh cũng chả là gì với tạo hóa. Chúng ta như những con kiến tần tảo kiếm ăn, và tạo dựng so với tạo hóa. Từ thời Coperncius đến Galileo, đến Newton và đến ngày nay, con người chỉ làm một việc đi tìm quy luật của tạo hóa, thiên nhiên nhằm hoàn thiện cuộc sống của mình, nhưng nhiều thế hệ, hàng triệu nhà khoa học vẫn còn rất xa so với tầm tay với đối với thiên nhiên.

Năm nay Singapore kỷ niệm 50 năm lập quốc - 1965 - 2015. Nhờ vào địa chính trị và có một lãnh đạo có tầm nhìn mà Singapore từ 1 rẻo đất của Malaysia thuộc địa Anh, họ đã tách ra và biến mình trở thành 1 con rồng kinh tài Đông Á. Họ cạnh tranh với Hong Kong trong tài chính ngân hàng. Họ cạnh tranh với Úc về môi trường sống sạch và xanh. Họ đứng vị trí số 1 về môi trường đầu tư tốt nhất toàn cầu. Nhưng họ còn đang khó khăn trong an sinh xã hội cho người già. Dù sao thì con rồng Tân Gia Ba vẫn là bài học cho các nước trong khu vực và trên thế giới.

Bài học Tân Gia Ba là bài học của những nhà lãnh đạo quốc gia phải có tầm nhìn và không vì lợi ích cá nhân. Bài học Tân Gia Ba là bài học của một quốc gia mà thượng tầng kiến trúc là những con người vì dân vì nước, và luật pháp nghiêm minh, đi đôi với hạ tầng cơ sở là những con người tuân thủ luật pháp và quy hoạch cho thiên niên kỷ chứ không vì thế kỷ.

Cũng 50 năm đó, một bài học khác cho thế giới là Hàn Quốc. Hàn Quốc còn là một phép so sánh đối xứng về mặt toán học giữa Nam Hàn và Bắc Hàn, giống như Đông Đức và Tây Đức trước đây. Hàn Quốc đã bật dậy chỉ trong vòng chưa tới 3 thập niên. Sau khi thay đổi hiến pháp vào năm 1987 để biến Hàn Quốc độc tài dưới sự cai quản của quân đội thành một Hàn Quốc tự do dân chủ. Hàn Quốc và Tây Đức đã minh chứng cho thế giới thấy rằng, giữa tư bản và cộng sản chế độ nào tốt đẹp hơn? Họ cũng minh chứng cho thấy rằng giữa đa nguyên tản quyền và đơn nguyên tập quyền thì hình thái xã hội nào tốt đẹp hơn.

Sau nửa thế kỷ không nhìn mặt nhau, Hoa Kỳ và Cu Ba đã đi đến ban giao, và đang mong mỏi Hoa Kỳ xóa cấm vận. Người dân Cu Ba ăn mừng. Nó cũng cho thấy tư bản và cộng sản chế độ nào tốt đẹp hơn. Nhưng trên tất cả là con người. Nếu con người làm ra những điều tốt đẹp, thì cũng chính con người làm ra điều tệ hại nhất hành tinh.

Một nghiên cứu về xã hội học cho thấy, chỉ cần 2% của 1 nhóm người biết đoàn kết lại, thì nhóm ấy sẽ lãnh đạo cộng đồng còn lại. Đó là một bi kịch cũng là một điều tốt đẹp. Bi kịch khi 2% ấy lãnh đạo cộng đồng mà không có tầm nhìn cho cộng đồng mà chỉ vì tư lợi cá nhân. Tốt đẹp khi ngược lại. 

Riêng Việt Nam, mọi con số báo cáo đều tốt đẹp. Tăng trưởng 5.93%, nhưng nếu bỏ đi 12 tỷ đô la kiều hối thì liệu tăng trưởng kinh tế Việt có hay không? Nhất là trong 12 tỷ đô la đó có đến gần 80% là tiền từ thân nhân ở Hoa Kỳ gửi về cho gia đình sống vật vờ trong lúc kinh tế đang suy thoái tại Việt Nam. Suốt gần 10 năm qua, lần đầu tiên Việt Nam có suất siêu dương, và tỷ lệ lạm phát thấp nhất nhờ vào sức mua của dân chúng giảm của một nền kinh tế đang đi xuống mà chưa thấy đáy.

Chính trị Việt Nam cũng không khá hơn tình hình kinh tế. Nó như câu nói của một quan chức chính phủ, chúng ta đi, mà không biết đi đâu?

Thiên, địa, nhân cho 1 gia đình, lớn hơn cho một đất nước, lớn hơn nữa cho toàn cầu, thì con người vẫn là yếu tố quyết định tất cả. Những Hàn Quốc, Nhật Bản địa lý và thiên nhiên không thuận lợi, chỉ con người làm nên cường quốc. Những Nigeria, Việt Nam, Cu Ba, Venzuela, etc đầy thuận lợi về thiên nhiên và địa lý ưu đãi, nhưng nhược tiểu vẫn là nhược tiểu, cũng bỡi vì con người. Tất cả các quốc gia không hoặc ít sáng tạo để biết tận dụng tài nguyên vô tận là con người, mà chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên địa lý mà tạo hóa ban cho đều có kết cục bi thảm.

Xin đừng trói buộc tư duy của con người ắt sẽ thành công

Con người của 2015 vẫn là con người của muôn năm cũ, nhưng chỉ mong rằng con người của 2015 có tư duy sáng sủa hơn - như câu nói của ông Obama trong bài phát biểu vào ngày 20/11/2014: "We are strangers once, too" một lần nữa chúng ta là những con người khác biệt. Nước Mỹ đã làm thế để vượt qua đại khủng hoảng 2008. Thế giới cũng có thể làm thế để thay đổi những lối mòn cũ, nhằm thay đổi diện mạo thế giới nhân bản hơn, chắc chắn rất khó, nếu không nói là không có giải pháp. Vì đấu tranh sinh tồn, tư hữu và quyền lực vốn là bản chất của mọi loài - con người không thoát ra được những bản chất đó để trở thành thánh nhân - thế giới vẫn không có lối ra.

Nhưng dù sao thì cũng cứ chúc mừng năm mới để có hy vọng mà sống!

Asia Clinic, 9h16' ngày thứ Năm, 01/01/2015
Bài đọc liên quan: Sau Gaddafi là Hugo Chavez

Sau khi quốc hữu hóa toàn bộ nền kinh tế Venezuela, và đuổi hết các tập đoàn kinh tế tư bản ra khỏi đất nước, ông Hugo Chavez đã biến Venezuela thành một quốc gia cô lập với thế giới phương Tây. Ông chuyển sang chơi với các quốc gia cánh tả, trong đó, có Trung Hoa, Việt Nam, Cu Ba và Nga. Nền kinh tế Venezuela bắt đầu đổ dốc. Quý I năm 2011, tỷ lệ lạm phát của Venezuela độc chiếm ngôi đầu, kế đến là Việt Nam - những quốc gia chỉ biết ăn của để dành mà tổ tiên để lại, và tham nhũng, độc tài.


Ông Hugo Chavez đã ra đi vì bệnh ung thư vào tháng Ba năm 2013, sau 14 năm cầm quyền. Ông trao quyền lãnh đạo đất nước cho người phó thân tín của mình - Nicolas Maduro - đất nước Venezuela tiếp tục con đường u tối, đến nỗi giấy vệ sinh cũng không có để dùng.

Có những điểm giống và khác nhau giữa chính trị, kinh tế Venezuela với Việt Nam xưa và nay đã làm cho đất nước này khánh kiệt và nguy cơ đi đến sụp đổ trên đống tài nguyên.

Sau khi quốc hữu hóa, ông Hugo Chavez đưa toàn dân vào chế độ tem phiếu và hộ khẩu như Việt Nam thời bao cấp để quản lý chính quyền. Ông bắt chước Gaddafi thuê quân đội và cảnh sát các nước như Cuba để quản lý nội an, và bảo vệ mình, vì không tin người dân trong nước.

Ở Venezuela hiện nay, về tài chính ngân hàng cũng giống tình trạng của Việt Nam - chỉ có khác là Việt Nam có 1 số ngân hàng nước ngoài được hoạt động. Chính phủ Venezuela không có bất kỳ ngân hàng nước ngoài nào được phép hoạt động. Người dân không được sử dụng ngoại tệ cả trong ngân hàng và ngoài thị trường, nếu không có chức năng đặc biệt làm xuất nhập khẩu, đầu tư cho chính quyền. Đồng Venezuela Bolivar được nhà nước quy định cứ 6 đồng ăn 1 đô la Mỹ, nhưng thị trường chợ đen phải 70 đến 80 Venezuela mới mua được 1 đô la Mỹ. Mọi việc mua bán ngoại tệ đều phi pháp, và bị chính quyền tịch thu, nhằm ổn định tình hình kinh tế đang sụp đổ trên những giếng dầu.

Cũng chính vì lạm phát ở Venezuela mỗi năm từ 30 - 60% trong 3 năm qua - 2012 đến 2014 - và sự chênh lệch gấp hơn 10 lần giữa giá đồng đô la Mỹ giữa thị trường chợ đen và thị trường chính thống, trong khi môi chi phí của Petro Việt Nam tại dự án đầu tư thăm dò khai thác dầu trên biển của Venezuela đề bằng ngoại tệ chợ đen, nên dự án này đã chính thức ngừng hoạt động kể từ tháng 10/2014. Tuy được đánh giá là dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất của Petro Việt Nam - khoảng hơn 8 tỷ đô la Mỹ - nhưng phá sản vì kinh tế chính trị Venezuela bất ổn.

Cũng giống như Iraq thời ông Saddam Hussein, người dân nghèo Venezuela đang chết đói trên tài nguyên vì lệnh cấm vận của Hoa Kỳ và phương Tây, vì một nền chính trị độc tài. Giá xăng tại Venezuela hiện nay là rẻ nhất thế giới, chỉ khoảng 0.02 đô la Mỹ 1 lít xăng, tương đương 428 đồng Việt Nam 1 lít, rẻ hơn 1/40 so với giá xăng của Việt Nam hiện tại. Nhưng ở Venezuela có sự phân cực giàu nghèo nặng nề, nếu nhà giàu sống hơn cả vua chúa, thì dân trung lưu và nghèo phải chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi.

Dù giá dầu ở Venezuela là rẻ nhất thế giới, trong khi nền kinh tế khánh kiệt, nhưng chính phủ của ông Nicolas Maduro không dám tăng giá xăng dầu, vì sợ phe đối lập lấy cớ trong tranh cử. Vì Venezuela còn thể chế chính trị đa nguyên, nhưng quân đội và an ninh thuộc về phe nhóm của ông Hugo Chavez. Đó là điểm khác của Venezuela và Việt Nam.

Chính trị là một nghệ thuật của sự có thể. Chính trị đúng quy luật mẫ thuẫn và đối lập trong triết học - đa nguyên tản quyền - thì nền kinh tế đi lên, khoa học kỹ thuật phát triển, đời sống người dân tốt đẹp, và đất nước hùng cường. Ngược lại, chính trị đi ngược với quy luật triết học - độc tài đơn nguyên - thì thui chột trí tuệ và tài nguyên con người, đất nước yếu hèn, do tham nhũng tràn lan vì cửa quyền, và kinh tế suy sụp dẫn đến chính trị sẽ nô dịch hoặc sụp đổ.

Venezuela là một quốc gia giàu dầu mỏ nhất châu Mỹ và đứng tóp 5 thế giới, nhiều tài nguyên, nhưng chính trị Venezuela đã làm khánh kiệt đất nước này cũng chỉ vì lòng tham của một vài chính khách, trong đó, tội lỗi của Hugo Chavez không thể không ghi vào lịch sử đất nước này.

Asia Clinic, 8h50' ngày 24/12/2014

Tôi đã từng viết về vấn đề vàng đô để tiên lượng kinh tế toàn cầu nói chung, và kinh tế của từng quốc gia, và gia đình nhỏ. Trong những bài viết đó, tôi đã từng nhắc đến đề tài này. Hôm nay, tôi xin hệ thống lại để thấy Hoa Kỳ quản lý toàn cầu như thế nào?

Dù thế giới có thay đổi thế nào đi nữa, thì 100 năm tới Hoa Kỳ vẫn là cường quốc số 1 về khoa học kỹ thuật, giáo dục. Từ đó, nền tảng lý thuyết kinh tài cũng từ đất nước này đẻ ra, nhờ vào họ biết thúc đẩy tất cả tiềm năng trí tuệ của con người. Và nước Mỹ vẫn sẽ lèo lái kinh tế toàn cầu, xoay chuyển chính trị toàn cầu, và là quốc gia cầm lái vĩ đại.

Tháng Mười Hai năm 1944, hơn 70 quốc gia họp nhau ở thành phố Bretton Woods thuộc bang New Hamshire Hoa Kỳ để quyết định chuyển trung tâm quyền lực kinh tài từ Luân Đôn sang Nữu Ước, và đồng dollar Mỹ là thống soái thay vì Bảng Anh.

Cần nhắc lại, bang New Hamshire là bang đẻ ra những sáng kiến to lớn cho Hoa Kỳ và cho thế giới nói chung. Một trong những sáng kiến vĩ đại nhất mọi thời đại về giáo dục do các giáo sư đại học của bang này đưa ra. Đó là, trả quyền tự trị về cho các đại học, đi đôi với đại học phải đi đầu trong nghiên cứu phục vụ cho nhân sinh. Để sáng kiến này được các nhà thờ và chính quyền Hoa Kỳ vào thế kỷ XIX đồng ý, thì đã có nhiều giáo sư, sinh viên phải chết hoặc đi tù.

Cũng tại New Hamshire này, hệ thống Bretton Woods ra đời. Nó buộc các đồng tiền mạnh gắn chặt vào vàng. Tỷ lệ 35 dollar Mỹ ăn 1 ounce vàng. Sau đó, các đồng tiền khác đi theo dollar Mỹ. Ví dụ 1 dollar Mỹ ăn 2 Đức Mã, bằng 0.75 Bảng Anh, và bằng 80 Yên Nhật, etc - gold dollar.

Lý do phải chuyển đổi quyền lực từ Anh sang Mỹ, vì lúc đó, Hoa Kỳ chiếm lĩnh hơn 50% thị trường xuất khẩu toàn cầu. Nước Mỹ tiêu dùng hơn 50% toàn cầu cộng lại. Hoa Kỳ đã lập ra những hệ thống phòng thủ như NATO và hiệp ước an ninh với Nhật Hàn để chống lại cộng sản. Hoa Kỳ bảo kê an ninh quốc phòng, các quốc gia đi theo Hoa Kỳ chỉ cần làm ăn và đóng phí cho những cuộc chiến tranh mà Hoa Kỳ thấy cần thiết, để bảo vệ các quốc gia cùng phe nhóm với Hoa Kỳ. 

Nhưng từ năm 1944 đến 1970, các quốc gia dưới quyền như Đức và Nhật phục hồi nhanh chóng. Họ chiếm lại thị phần xuất khẩu thế giới, cũng như khả năng tiêu dùng của họ cũng tăng cao chiếm khoảng 25% toàn cầu. Họ yêu sách, phải bỏ hệ thống Bretton Woods để họ tự do làm giá đồng tiền của nước họ, nhằm phụ vụ cho việc xuất khẩu dễ dàng hơn, bằng cách hạ giá đồng bạc nội địa của mình. Trong 25 năm kinh tế toàn cầu bình yên nhờ hệ thống Bretton Woods, nay sóng gió bắt đầu, khi tổng thống Nixon đồng ý yêu cầu của Đức và Nhật. Ông quyết định hủy bỏ hệ thống neo giá đồng tiền vào vàng, thả nổi đồng tiền toàn cầu, và trả 24.000 tấn vàng của các quốc gia ký quỹ vào kho vàng Nữu Ước để được phép in tiền khi cần tiêu xài cho quốc gia, mà hệ thống Bretton Woods quy định.

Bắt đầu năm 1971, Hoa Kỳ chuyển sự neo đậu giá đồng tiền vào vàng sang năng lượng - dầu hỏa: oil dollar - cũng là lúc Hoa Kỳ dùng đồng dollar neo vào dầu hỏa để cai quản toàn cầu. Vì thế giới công nghiệp cần năng lượng. Cho đến nay năng lượng từ dầu hỏa vẫn là nguồn chính mà toàn cầu sử dụng.

Suốt từ 1971 đến 1978, giá dầu quanh quẩn 20 dollar/thùng. Nhưng khi phong trào cộng sản thế giới lan rộng đến các quốc gia Hồi giáo ở Trung Đông - giếng dầu thế giới - thì Iran tách ra sự che chở của Hoa Kỳ. Sự kiện 52 con tin ngoại giao năm 1978 do Iran bắt giữ, đã làm giá dầu tăng gấp 3 lần. Giá vàng vì thế cũng tăng cao nhất trong lịch sử từ 35 dollar/ounce lên đến 850 dollar/ounce!

Khi 52 con tin được giải thoát, tình hình giá dầu trở lại quanh quẩn 25 dollar/thùng, và giá vàng trở về khoảng 100 dollar/ounce. Nhưng sau khi sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nó đã để lại nhiều thiệt hại cho Hoa Kỳ vì những cuộc chạy đua vũ trang trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ múa gậy vườn hoang suốt gần 20 năm từ 1990 đến 2008. Làm anh cả ôm đòm, nợ công Hoa Kỳ tăng quá mức. Bong bóng đầu tư bảo hòa và vỡ tung. Một cuộc đại khủng hoảng toàn cầu lớn nhất kể từ 1933 bắt đầu từ Hoa Kỳ. 

Trong đại khủng hoảng đó, Hoa Kỳ đã vay 800 tỷ dollar từ Trung Cộng để giải quyết. Thế là, một số cuộc chiến ở Bắc Phi Trung Đông nổ ra, làm nghẽn mạch chuyển dầu đi tới toàn cầu, giá dầu tăng ngất ngưỡng, có lúc cao nhất lên đến 140 dollar/thùng vào tháng Chín năm 2008. Giá vàng lập kỷ lục mới với 1900 dollar/ounce. Và sau 6 năm lên nắm quyền, đảng Dân Chủ ở Hoa Kỳ đã chỉ lo khôi phục kinh tế Hoa Kỳ, điều chỉnh sự tham chiến trân toàn cầu. Giờ kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng từ < 1% lên 4.5%/năm. Tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ quay về con số lý tưởng < 5%. 

Ngay tức thì khi Hoa Kỳ ổn định kinh tế, câu chuyện Nga xâm lược Ukraina xuất hiện. Một lệnh cấm vận kinh tế với Nga. Trong khi đó, Hoa Kỳ thành công việc nghiên cứu và sản xuất vắt đá thành dầu, và đến năm 2015 sẽ là quốc gia sản xuất dầu nhiều nhất thế giới. Hoa Kỳ là quốc gia sử dụng dầu nhiều nhất thế giới, khoảng hơn 20% toàn cầu, trong một quốc gia chỉ có 5% dân số so với toàn cầu. 

Trong cuộc khủng hoảng vừa qua, tổ chức các quốc gia sản xuất dầu đã tăng đầu tư và xây dựng nhà máy lọc dầu, khai thác thêm nhiều mỏ dầu mới. Nay, Hoa Kỳ độc lập năng lượng, không còn lệ thuộc nhập khẩu dầu. Nguồn cung dầu tăng, trong khi nhu cầu nhập khẩu của quốc gia sử dụng dầu nhiều nhất thế giới không còn nữa. Huyết mạch chuyển giao dầu thông thoáng. OPEC vẫn cứ sản xuất đều đều không giảm. Vậy là giá dầu giảm. Giá dầu giảm, thì giá vàng cũng giảm theo.

Nước Nga mạnh lên trong 10 năm nhờ khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ, vì chỉ biết bán tài nguyên dầu hỏa, khí gas để ăn. Nước Nga mạnh lên thì Hoa Kỳ và Trung Cộng cũng khốn khổ vì giá dầu tăng, vì họ là những quốc gia đứng thứ nhất và thứ hai sử dụng dầu nhiều nhất thế giới. Ông Putin đã gặp thời khi lên nắm quyền ngay lúc giá dầu tăng, thực ra ông không có tài năng gì, ngoài tư tưởng và hành động độc tài được nuôi dưỡng từ thời cộng sản Liên Xô.

Nay giá dầu xuống. Nước Nga khốn đốn. Ông Putin quen là lãnh đạo ăn bám của để dành của tổ tiên. Nay không có sáng kiến gì để vực nước Nga, vì hơn 200 ngàn tài năng khoa học Nga đã bị chảy chất xám sang phương Tây và Hoa Kỳ trong 12 năm cầm quyền của ông. Quanh ông không còn ai biến nước Nga trở thành một quốc gia hùng mạnh nhờ vào trí tuệ, mà chỉ là những kẻ ăn bám như ông.

Oil dollar đã làm mưa, làm gió suốt 10 năm qua. Giờ đã đến lúc mưa tạnh, gió hòa. Cũng là lúc Hoa Kỳ hùng mạnh trở lại. Cũng là lúc Trung Cộng chật vật với bong bóng đầu tư. Cũng là lúc mà nếu ông Putin muốn trợ giá đồng Rub của mình thì, 400 tỷ dollar dự trữ từ bán dầu và khí gas của nước Nga chỉ có thể dùng trong 60 ngày!

Dầu giảm còn $64.40/thùng nó làm giá vàng sáng nay hạ thẳng đứng 1 phát chỉ trong 1 phút đồng hồ tới $39.10/ounce, chỉ còn $1151.60/ounce. Mốc $1.000/ounce đang chờ trong 1 tháng cuối năm 2014.

Oil dollar bình yên thì ông Putin thả nổi đồng Rub Nga từ 35 Rub ăn 1 dollar lên đến 50 Rub ăn 1 dollar. Thả nổi đồng Rub Nga thì của cải để dành của dân Nga từ tiền thành giấy lộn. Thả nổi đồng Rub tức có nghĩa là ông Putin thả nổi luôn sự nghiệp chính trị của mình.

Bà mẹ Nga về hưu phải ngồi bán vĩa hè từng củ tỏi, lọ tương ớt kiếm sống vào mùa đông giá lạnh. Hình của Dương Trương gửi về từ Nga.

Oil dollar bình yên đồng nghĩa với Hoa Kỳ vững mạnh, và thế giới đối nghịch đang chật vật với cơm áo gạo tiền. Một bài toán rất đơn giản nhưng rất công phu để làm thế nào để trở thành kẻ thống trị toàn cầu. Hay nói cách khác, chính trị và kinh tế là một nghệ thuật của sự có thể.

Asia Clinic, 13h28' ngày thứ Hai, 01/12/2014
Bốn vị Tổng thống được tạc tượng, từ trái qua: George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt, Abraham Lincoln. Họ được tạc tượng ở khu Tưởng niệm Quốc gia là một quần thể tác phẩm điêu khắc được tạc vào khối đá granite khổng lồ trên núi Rushmore, gần thành phố Keystone, bang South Dakota, Hoa Kỳ. Toàn thể khu tưởng niệm bao phủ trên diện tích 517 km² và cao 1.745m so với mực nước biển.

Nước Mỹ có được cuộc soán ngôi vị số 1 thế giới từ Vương Quốc Anh là sự góp công lớn không chỉ các chính khách, mà của tất cả mọi con người số 1 nước Mỹ trong tất cả các ngành nghề. Đóng góp đó được hun đúc trong chỉ 5 con người vĩ đại nhất nước Mỹ qua mọi thời đại từ sau ngày nước Mỹ độc lập. Năm con người này được xem là tương đương với 4 vị Tổng thống được xem là nổi tiếng nhất nước Mỹ được khắc ở Khu Tưởng niệm Quốc gia trên núi Rushmore, gần thành phố Keystone, bang South Dakota, Hoa Kỳ. . 

Một bộ phim lịch sử Hoa Kỳ gồm 4 tập bắt đầu từ năm 1865 với 5 con người tiên phong vĩ đại làm nên nước Mỹ ngày nay như: 

Cornelius Vanderbilt (May 27, 1794 – January 4, 1877)

1. Cornelius Vanderbilt, ông cố của Cornelius Vanderbilt là một công dân Hoa Kỳ gốc Hà Lan, có tên họ là, Jan Aertszoon, một nông dân ở làng De Bilt thuộc thành phố Utrecht, của Hà Lan. Ông di cư sang Hoa Kỳ năm 1650, và đổi họ của mình bằng tên làng là Vanderbilt để ngóng tưởng về quê nhà. Đến thế hệ thứ tư thì gia đình Vanderbilot xuất hiện thiên tài Cornelius Vanderbilt - một ông trùm ngành giao thông hàng hải, và là người khai sinh ra ngành đường sắt cho nước Mỹ. 

Không có Cornelius Vanderbilt nước Mỹ sẽ không thể có một hệ thống giao thông phân phối vĩ đại nhất hành tinh như ngày nay. Đế chế Cornelius Vanderbilt được xem như là huyết mạch của nền kinh tế Mỹ từ giữa thế kỷ XIX, khi mà cả thế giới còn ngụp lặng trong chủ nghĩa phong kiến, thì Cornelius Vanderbilt đã gầy dựng và tài trợ đại học tư nhân lừng danh của mình: Vanderbilt University vào năm 1873. Ngày nay Vanderbilt University luôn nằm trong top 20 của những đại học danh tiếng nước Mỹ, không thua kém bất kỳ Ivy League nào.

John Davison Rockefeller, Sr. (July 8, 1839 – May 23, 1937)

2. John Davison Rockefeller, Sr.(cha): Ông là người nổi tiếng nhất của gia đình Rockefeller và là nhà đồng sáng lập ra Tập đoàn Standard Oil. Ông trùm dầu hỏa và là người cùng đứng chung với Cornelius Vanderbilt vào hàng ngũ những người giàu có nhất nước Mỹ. Ngành dầu khí Hoa Kỳ có được ngày nay là từ ông và gia đình Rockefeller - một gia tộc Đức di dân đến Hoa Kỳ. Bốn mươi năm cuối đời, John Davisson Rockefeller Sr. chỉ dành cho việc làm từ thiện cùng với ông trùm Andrew Carnegie.

Ông Rockefeller cũng là nhà tài trợ và khai sinh ra các đại học Hoa Kỳ như, Rockefeller UniversityUniversity of Chicago lừng danh thế giới luôn nằm top 10 của Hoa Kỳ và thế giới, và University of Chicago cũng là trường đại học danh tiếng của Mỹ đầu tiên có nhà khoa học nhận giải Nobel đầu tiên năm 1907, khi giải này mới ra đời. Ngoài ra ông còn là nhà sáng lập ra Central Philippine University để giúp đỡ cho đất nước Phi Luật Tân khốn khổ. Việc gia đình Rockefeller chăm lo giáo dục và làm từ thiện là do tác động lớn của Andrew Carnegie, mà chúng ta sẽ biết sau đây.

Andrew Carnegie (November 25, 1835 – August 11, 1919)

3. Andrew Carnegie: Có thể nói không ngoa là, Andrew Carnegie là cha đẻ ngành công nghệ thép Hoa Kỳ. Nhưng cái vĩ đại nhất của Andrew Carnegie là, ông chính là cha đẻ của lòng nhân từ, tấm gương chói lọi của nhân loại nói chung, và Hoa Kỳ nói riêng, được xem là người khai sinh ra những tổ chức từ thiện cho nước Mỹ từ thế kỳ XIX, và cho toàn cầu sau này. Carnegie sinh ra ở Dunfermline, Scotland vào năm 1835, khi lên 13, ông cùng mẹ di cư sang Hoa Kỳ trong hoàn cảnh rất nghèo, và mồ côi cha. Bắt đầu bằng một chân điện tín viên trong bưu điện, và tìm hiểu đầu tư tài chính vào ngành hỏa sa, ông đã nổi lên như một ngôi sao sáng khi thành lập Công ty thép Carnegie, ở Pittsburgh, để phục vụ cho công nghiệp, mà sau đó ông bán cho J.P Morgan vào năm 1901 với giá 487 triệu USD (tương đương với khoảng 13.6 tỷ đô la vào năm 2013), rồi cùng với J.P Morgan, ông thành lập Tổng công ty thép Hoa Kỳ, và bao nhiêu đầu tư ở các ngành khác. 

Vào năm 1889, khi ông ở tuổi 54, ông nổi tiếng với bài diễn văn: "The Gospel of Wealth" - Nguyên lý của Sự Thịnh Vượng. Trong bài phát biểu này, ông kêu gọi những nhà giàu của Hoa Kỳ hãy làm từ thiện. Từ thiện là gốc rễ của sự thịnh vượng cho cả nhân cách của mỗi người dân Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, mà còn là nguyên lý cho một Hoa Kỳ sẽ là cường quốc số 1 thế giới trong tương lai. 90% tài sản của ông đã hiến cho các tổ chức từ thiện, công trình quốc gia và trường đại học nổi tiếng của ông gầy dựng năm 1900 từ một trường kỹ thuật phục vụ cho công nghệ thép của ông, Carnegie Technical School, mà sau đó, 1912 trở thành Carnegie Mellon University danh tiếng toàn cầu, luôn nằm trong top 30 của các đại học Hoa Kỳ.

Andrew Carnegie được mệnh danh là: Người cứu rổi tinh thần cho nước Mỹ - "Save my Soul". Ông là người tạo dựng nhân cách Mỹ, sức mạnh Mỹ đại diện cho cái chân, thiện, mỹ của nhân loại, và xứng đáng với cái gọi là: Kinh Phúc Âm của Sự Thịnh Vượng - The Gospel of Wealth - bài phát biểu của ông như lời của thánh sống gửi đến nhân loại khổ đau vì thiếu hiểu biết. Ông không chỉ là thánh sống của nước Mỹ, mà còn là vị Thánh vĩ đại nhất của lịch sử loài người bằng xương bằng thịt, chứ không phải là những huyền thoại của các tôn giáo hiện hành.

John Pierpont "J. P." Morgan (April 17, 1837 – March 31, 1913)

4. John Pierpont "J. P." Morgan: Ông là hiện thân người di dân Do Thái có thiên bẩm về tài chính ngân hàng. Ông là thế hệ đầu tiên - được xem là cha đẻ - của nước Mỹ về ngành tài chính ngân hàng. Tập đoàn J.P Morgan của ông ngày nay vẫn còn hùng mạnh, và là một trong những tập đoàn tài chính tư nhân hàng đầu thế giới. Sinh ra và lớn lên ở Connecticut, Hoa Kỳ. Ông được cha mình chuẩn bị cho việc học tập ở nhiều quốc gia: Hoa Kỳ, Ý, Đức và Anh, để trở thành một ông chủ tài chính ngân hàng. Và ông đã làm được điều đó xuất sắc, khi nhận lại Công ty JS Morgan & Co của cha mình qua đời để lại vào năm 1900. 

Từ GS Morgan & Co, ông đã biến nó trở thành Tập đoàn J.P Morgan lừng lẫy toàn cầu ngày nay. Ông được xem là một thế hệ kế thừa cho những thế hệ tài phiệt già nua như Andrew Carnegie đã lỗi thời với câu nói nổi tiếng của người dân Mỹ: "When one ends another begins" - Khi một thế hệ kết thúc thì có thế hệ khác kế thừa - nước Mỹ là thế. Cuối đời, ông cũng nghe theo lời của Andrew Carnegie đi làm từ thiện. Và ông mất ở tuổi 75 tại Ý trong một giấc ngủ.

Henry Ford (July 30, 1863 – April 7, 1947)

5. Henry Ford: Ông là đứa con mang hai dòng máu Ireland của cha, và Anh quốc của mẹ. Ông được sinh ra tại trang trại ở Greenfield Township, Michigan. Ông được xem là nhà cách mạng về đưa mô hình sản xuất dây chuyền Taylor, và quảng cáo, mở chi nhánh hãng Ford đi khắp nơi, vào ngành công nghiệp xe hơi nói riêng và công nghệ sản xuất, quảng cáo nói chung. Mô hình T Ô tô của ông cũng làm một cuộc cách mạng trong sản xuất xe hơi tiện dụng, khi ông đưa ra tay lái xe hơi phải nằm bên tay trái của xe. Với tư tưởng cải cách sản xuất của ông, có thể xem ông là cha đẻ của việc mang những ứng dụng khoa học kỹ thuật tân tiến đến người bình dân trên toàn cầu. 

Có ông, với Học thuyết Ford - Fordism - thế giới đã xích lại gần nhau hơn trong khoảng cách giàu nghèo. Vì không chỉ có đưa xe hơi đến người tiêu dùng bình dân với giá rẻ, mà ông còn đưa ra ý tưởng cho thế giới những ông chủ tư bản chống lại cộng sản là, phải trả lương công nhân cao, và bán cổ đông cho người làm thuê, để họ ý thức được nhà máy, công xưởng chính là của mình. Nó đã góp phần thúc đẩy Hoa Kỳ vươn lên thành siêu cường số 1 thế giới, và con người sống với con người nhân bản hơn. 

Những năm đầu của thế kỷ XX, thế giới các nhà tư tưởng đã có những cuộc tranh cãi về Fordism với Marxism ai sẽ thắng ai. Và hôm nay Học Thuyết Henry Ford đã thắng học Thuyết của Karl Marx trên thực tế khi chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ ngay tại nơi nó sinh ra, và đang suy tàn ở các quốc gia biến tướng trở thành chủ nghĩa tập quyền phong kiến quân phiệt ở các quốc gia lạc hậu như Việt Nam, Trung Hoa, Cu Ba, Bắc Hàn, và Lào còn sót lại. 

Sau đây là 4 tập phim:





Bốn tập phim kéo dài khoảng 6 giờ phiêu lưu với lịch sử phát triển nước Mỹ cùng 5 vĩ nhân của nước Mỹ trong các lĩnh vực công nghiệp đến giao thông vận tải, dầu khí, sắt thép và tài chính toàn cầu sẽ cho ta thấy nước Mỹ thật vĩ đại không chỉ là một Tân thế giới về nhân quyền mà còn là vùng đất của mọi ý tưởng và cơ hội.

Asia Clinic, 15h30' ngày thứ Hai, 25/8/2014