Hiển thị các bài đăng có nhãn thoái hóa khớp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thoái hóa khớp. Hiển thị tất cả bài đăng

PHẦN IV: ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP
                                       /VIÊM KHỚP XƯƠNG

Thoái hóa khớp tiến triển từ từ và dần dần nặng hơn, chưa có cách điều trị hết hẳn. Vì thế mục tiêu của điều trị là giảm đau và cải thiện tình trạng chức năng. 

Điều trị phải kết hợp nhiều phương pháp: tập thể dục, giảm cân nếu thừa cân, thuốc men, vật lý trị liệu với các bài tập tăng cường cơ bắp, chườm nóng và lạnh, tiêm thuốc vào khớp, và sử dụng các thiết bị hỗ trợ. Phẫu thuật có thể hữu ích để giảm đau khi các điều trị nội khoa không còn hiệu quả. 

Các phương pháp điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố: bao gồm tuổi tác, hoạt động và nghề nghiệp, sức khỏe tổng thể, tiền sử y tế, khớp bị ảnh hưởng, và mức độ nghiêm trọng của tình trạng này. Tùy mức độ năng nhẹ mà có phương pháp điều trị phù hợp.

I. GIẢM CÂN VÀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU 

1. Tập thể dục: 

Đạt trọng lượng l‎ý tưởng là cách tốt nhất và quan trọng nhất để điều trị thoái hóa khớp. Tập thể dục còn làm tăng độ bền và tăng cường cơ bắp xung quanh khớp, làm cho khớp ổn định hơn. Bài tập nhẹ nhàng như bơi lội hoặc đi bộ trên bề mặt phẳng được khuyến cáo. Tránh các hoạt động làm tăng đau khớp, chẳng hạn như chạy bộ hoặc các động tác thể dục nhịp điệu mạnh. Khi tập mà cảm thấy đau khớp thì dừng lại. Đau kéo dài nhiều giờ sau khi tập thể dục có nghĩa là đã tập quá trớn, nhưng không có nghĩa là nên ngừng tập thể dục hoàn toàn. 

2. Vật lý trị liệu, Tai chi và yoga: 

Liệu pháp vận động liên quan đến bài tập nhẹ nhàng và kết hợp với hít thở sâu làm tăng cường các cơ bắp xung quanh khớp, tăng phạm vi của chuyển động và giảm đau. Nhiều người sử dụng các liệu pháp này để giảm bớt căng thẳng trong cuộc sống và có thể làm giảm đau khớp. Tránh các vận động gây đau khớp.

3. Giảm cân: 

Thừa cân hoặc béo phì làm các khớp phải chịu tải trọng, ví dụ đầu gối và hông. 

4. Sử dụng nhiệt và lạnh để giảm đau: 

Chườm nóng và lạnh có thể làm giảm đau ở khớp. Nhiệt làm giảm độ cứng khớp và lạnh làm giảm co thắt cơ và giảm đau.

II. THUỐC

Bước đầu tiên với thuốc giảm đau thông thường không cần toa. Không dùng hơn 10 ngày nếu chưa có ý kiến của Bác sĩ vì nguy cơ tác dụng phụ. Một số loại thuốc dạng kem, thuốc xịt dùng tại chỗ ít tác dụng phụ hơn mà vẫn giảm đau tốt.

Nếu không có hiệu quả, bác sĩ có thể kê toa loại thuốc kháng viêm mạnh hoặc dùng thuốc khác để giúp giảm đau.

Tiêm thuốc corticosteroid giúp giảm đau khớp. Trong thủ thuật này bác sĩ sẽ gây tê khu vực xung quanh khớp, sau đó tiêm thuốc vào trong khớp. Chú ý ‎ nguy cơ nhiễm trùng khớp. Lượng cortisone nên giới hạn vì thuốc có thể làm trầm trọng thêm tổn thương khớp theo thời gian.

Tiêm axit hyaluronic (tương tự như một thành phần trong dịch khớp) tác dụng như chất đệm giúp giảm đau. 

Khi cơn đau trầm trọng và các phương pháp điều trị khác không hiệu quả, thuốc giảm đau mạnh hơn, chẳng hạn như các narcotics có thể xem xét. 

III. THUỐC PHỤ TRỢ/ THAY THẾ 

Glucosamine và chondroitin: một số nghiên cứu cho thấy bổ sung glucosamine & chondroitin có thể giảm đau ở một số người bị thoái hóa khớp, đặc biệt là đầu gối. Nhưng không có bằng chứng cho thấy glucosamine có thể tái tạo lại sụn. Không sử dụng nếu dị ứng với động vật có vỏ hoặc đang sử dụng warfarin.

      Chế phẩm bổ sung khác là SAMe (S-adenosylmethionine) có hiệu quả kháng viêm và ít tác dụng phụ hơn, nhưng tác dụng chậm hơn. 

Hỗn hợp của các loại dầu chống viêm: một số nghiên cứu cho thấy có thể làm chậm hoặc thậm chí ngăn ngừa tổn thương khớp.

Châm cứu có thể làm giảm đau và cải thiện chức năng ở những người có viêm xương khớp đầu gối. Rủi ro bao gồm nhiễm trùng, bầm tím và một số cơn đau nơi kim đâm.

Thiết bị trợ giúp làm cho cử động khớp dễ dàng do giảm áp lực lên khớp. Ví dụ gậy chống ở tay đối diện với chân đau vừa làm giảm đau vừa ngừa té ngã,  bàn chải đánh răng có trợ giúp làm cho việc đánh răng dễ dàng hơn ở người viêm khớp ngón tay, chiếc ghế dài trong phòng tắm giúp giảm đau do đứng nếu viêm khớp gối, miếng lót giày hoặc các thiết bị khác có thể giúp giảm đau khi đứng hoặc đi bộ. 

IV.  ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA

Thật không may, điều trị nội khoa chỉ có thể giúp giảm đau và duy trì vận động khớp, không có thuốc đặc trị thoái hóa khớp, không có thuốc  nào có thể đảo ngược hoặc làm chậm sự tiến triển của tổn thương khớp do thoái hóa. Vì thế, khi khớp bị hư tổn trầm trọng, các biện pháp nội khoa và phục hồi chức năng không đạt kết quả thì phương pháp điều trị phẫu thuật được xem xét.

1. Phẫu thuật nội soi khớp

Nội soi khớp để làm sạch sụn bị tổn thương hoặc sửa chữa các mô bị hư hỏng, thường được thực hiện trên đầu gối và vai. Phẫu thuật này cắt hoạt mạc đang bị viêm bằng dao đốt điện, lấy bỏ những mảnh sụn bị bong gây kẹt khớp, làm sạch sụn rách. Mất sụn có thể tiến hành can thiệp ghép sụn, nếu không ghép được thì làm sạch nơi tổn thương và kích thích các mô khớp phát triển làm đầy phần sụn đã mất. Phẫu thuật nội soi có thể giúp giảm đau một thời gian, tuy nhiên nó không thể áp dụng cho tất cả mọi trường hợp.

2. Phẫu thuật đục xương chỉnh trục

Nếu quá trình thoái hoá làm bào mòn lớp sụn khu trú trong một ngăn của khớp, đồng thời gây biến dạng vẹo trong hoặc vẹo ra ngoài thì bác sĩ sẽ áp dụng phương pháp đục xương chỉnh trục. Ví dụ: thay đổi trục cơ học của khớp gối, làm cho khớp gối chịu lực lên ngăn còn lại không bị mòn lớp sụn. Phẫu thuật này thường áp dụng cho những người còn trẻ tuổi, nó giúp giảm đau kéo dài một thời gian khá lâu.



3. Khớp nhân tạo

Nếu khớp đã bị hư trầm trọng, lớp sụn đã bị bào nhiều, đau khớp nghiêm trọng gây trở ngại đáng kể chức năng và chất lượng cuộc sống thì phải thay khớp nhân tạo (bằng nhựa cao phân tử hay kim loại). Thường là các khớp háng và đầu gối (hiện nay cũng có cả các khớp nhân tạo khác như khớp vai, ngón tay, khuỷu tay, mắt cá chân). Sau đó, mọi vận động và chịu lực của khớp bây giờ sẽ do khớp nhân tạo này đảm trách, người bệnh hết đau, vận động khớp được cải thiện rõ rệt, dù không thể trả lại trạng thái bình thường của nó (khớp nhân tạo không thể có tất cả các chuyển động như một khớp bình thường). Rủi ro phẫu thuật bao gồm nhiễm trùng và tắc mạch. Khớp nhân tạo có thể hao mòn hoặc lỏng và có thể phải thay lại. Thay khớp lặp lại thì khó và ít thành công hơn so với phẫu thuật ban đầu. Thay khớp phải cân nhắc tuổi của bệnh nhân ( thường > 60 tuổi) vì tuổi của khớp nhân tạo chỉ khoảng 15 năm.

Khớp gối nhân tạo tư thế thẳng & nghiêng

Khớp háng (T) nhân tạo


Tham khảo:
http://emedicine.medscape.com/article/330487-overview
http://www.webmd.com/osteoarthritis/guide/arthritis-basics
http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/osteoarthritis/basics/definition/con-20014749


PHẦN III: CHẨN ĐOÁN 
THOÁI HÓA KHỚP/VIÊM KHỚP XƯƠNG

I. TRIỆU CHỨNG 

Đặc trưng của thoái hóa khớp là sự tiến triển chậm, xảy ra trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ. 

  • Đau thường là triệu chứng đầu tiên. Đau ở những khớp thường sử dụng. Trong giai đoạn đầu, chỉ đau ít và có thể có triệu chứng cứng khớp vào buổi sáng. Dần dần, đau nhức trầm trọng hơn do sử dụng khớp nhiều. Ở giai đoạn muộn, đau tăng lên ngay cả khi nghỉ ngơi và ban đêm, có thể mất vĩnh viễn khả năng cử động bình thường của khớp đó. Ban đầu, đau có thể được thuyên giảm bằng cách nghỉ ngơi và có thể đáp ứng với các thuốc giảm đau thông thường. Tuy nhiên, khi bệnh tiến triển, cơn đau có thể không còn đáp ứng với thuốc. Đau một hoặc cả hai bên khớp.
  • Sưng nhẹ quanh khớp, sờ thấy phì đại xương. Hầu như không viêm tấy đỏ.
  • Cứng khớp khi không vận động, hay gặp vào buổi sáng hoặc sau một khoảng thời gian không hoạt động, nhưng trở lại bình thường sau khi cử động (thường không quá 30 phút).
  • Hạn chế vận động khớp thường gặp.
  • Có thể nghe tiếng răng rắc trong khớp khi cử động.
  • Yếu & teo cơ do mất lượng lớn cơ bắp ở các khớp bị ảnh hưởng nặng nề.

II. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

1. Các giai đoạn tiến triển của thoái hóa khớp theo sinh bệnh học:

Giai đoạn 1: phân giải protein mô sụn. Chuyển hóa sụn bị ảnh hưởng, dẫn đến tăng sản xuất các enzym, trong đó bao gồm metalloproteinase (ví dụ, collagenase, stromelysin) phá huỷ các mô sụn. Sụn cũng sản xuất các chất ức chế protease, bao gồm metalloproteinase (TIMP) 1 và 2, nhưng với số lượng không đủ để chống lại các tác động phân hủy protein.

Giai đoạn 2:  xơ hóa và bào mòn bề mặt sụn, phóng thích các mảnh vỡ proteoglycan và collagen vào hoạt dịch. 

Giai đoạn 3: các sản phẩm sụn hư hỏng này gây phản ứng viêm mạn tính trong hoạt dịch, càng thúc đẩy sự hủy hoại sụn. Các sản phẩm thực bào hoạt dịch của metalloproteinase, các cytokine như interleukin (IL) 1, yếu tố hoại tử khối u (tumor necrosis factor alpha: TNF) -  khuếch tán trở lại vào sụn và trực tiếp phá hủy mô hay kích thích tế bào sụn sản xuất ra nhiều metalloproteinase. Các phân tử tiền viêm khác (ví dụ, oxit nitric : NO) cũng có thể là một yếu tố.

Tiến triển tiếp tục: hậu quả là thay đổi kiến trúc sụn, sự phát triển bù trừ của xương để ổn định khớp, và bệnh tiến triển không kiểm soát được.

2. Tiên lượng: phụ thuộc khớp bị thương tổn và mức độ nghiêm trọng của tình trạng này. OA là một bệnh thoái hóa nặng dần theo thời gian. Đau và sưng khớp có thể trở nên nghiêm trọng, làm cho công việc hàng ngày khó khăn. Một số người không còn khả năng làm việc, khi ấy, phẫu thuật thay khớp có thể được chỉ định.

Các yếu tố tiên lượng:
Cao tuổi.
BMI cao. 
Biến dạng chân.
Bị nhiều khớp.
Bệnh nhân bị thoái hóa khớp mà đã thay khớp thì có tiên lượng tốt, thành công của khớp háng và đầu gối là 90%. Tuy nhiên, phải thay lại sau 10-15 năm, tùy thuộc vào mức độ hoạt động của bệnh nhân. Bệnh nhân trẻ và hoạt động nhiều thì cần thay lại, còn người lớn tuổi thì không. 

 III. CHẨN ĐOÁN

Không giống như nhiều bệnh viêm khớp (ví dụ viêm khớp dạng thấp và lupus hệ thống), thoái hóa khớp là một bệnh chỉ xảy ra tại khớp, không ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể. Việc chẩn đoán thoái hóa khớp dựa trên sự kết hợp của các yếu tố:  triệu chứng lâm sàng với có hoặc không các bằng chứng X quang. 

1. Khám lâm sàng: Khớp đau điển hình của thoái hóa khớp, hạn chế cử động. 

2. X-quang điển hình của thoái hóa khớp: hẹp khe khớp, gai xương, xơ cứng xương dưới sụn, kén/hốc dưới sụn

 XQuang thoái hóa khớp


• Hẹp khe khớp (joint space narrowing): Sụn không hiển thị trên hình ảnh X-quang, nhưng mất sụn được tiết lộ bởi sự thu hẹp khoảng không gian giữa các xương trong khớp do tăng tạo xương quanh khớp (xơ cứng dưới sụn). Hẹp khe khớp không đồng đều là dấu hiệu chứng tỏ mòn sụn khớp.
• Gai xương (osteophytes, bone spur) quanh khớp: là đặc trưng của OA, gai xương có hình thô và đậm đặc,  mọc ở phần tiếp giáp giữa xương và sụn.  
• Xơ cứng dưới sụn (subarticular Sclerosis) & kén/hốc dưới sụn (subarticular cysts) .

X quang là phương pháp được lựa chọn vì hiệu quả, chi phí thấp, thực hiện dễ dàng nhanh chóng. 

Một số người có biểu hiện X-Quang trước khi có triệu chứng lâm sàng.

3. CT Scan/MRI: thường không cần thiết để chẩn đoán thoái hóa khớp,  nhưng có thể giúp cung cấp thêm thông tin trong trường hợp phức tạp.

Sụn khớp mỏng, hoặc mất hoàn toàn hay bị hủy hoại rõ rệt.
Có gai xương.
Dây chằng rách một phần hoặc hoàn toàn.
Các dị vật có xu hướng tập trung thành đám.
Tràn dịch khớp. 
Các kén/hốc dưới sụn.
Quá phát hoặc dày màng hoạt dịch.

4. Siêu âm: Không có vai trò trong việc đánh giá thoái hóa khớp. Tuy nhiên, nó được sử dụng như công cụ để giám sát sụn thoái hóa, và được sử dụng để hướng dẫn tiêm thuốc vào khớp.

5. Xét nghiệm máu: không cần thiết cho chẩn đoán thoái hóa khớp. Không có xét nghiệm nào liên quan với OA, nhưng có thể được thực hiện để loại trừ các bệnh khác như viêm khớp dạng thấp, Gout. 

6. Phân tích dịch khớp: để xác định nếu có nhiễm trùng, hay Gout. Sự hiện diện của dịch khớp không viêm, soi cấy không thấy vi khuẩn, không có các tinh thể giúp phân biệt thoái hóa khớp với các đau khớp khác. 

7. Nội soi: là phương pháp chẩn đoán thoái hóa khớp chính xác nhất. Có thể nhìn thấy trực tiếp các thương tổn sụn và dây chằng ở các mức độ khác nhau, đồng thời phối hợp điều trị. Sự phục hồi sau phẫu thuật nội soi nhanh hơn so với mổ hở.

IV. CÁC THỂ LÂM SÀNG

Mặc dù thoái hóa khớp có thể xảy ra ở  bất kỳ khớp nào trong cơ thể, nhưng phổ biến nhất vẫn là các khớp chịu trọng lực ví dụ như khớp háng, đầu gối, cột sống. Nó cũng có thể bị ở các khớp nhỏ ở bàn tay, ngón tay, ngón chân cái, một hay cả hai bên. 

1. Thoái hóa khớp gối: thường cả hai đầu gối bị ảnh hưởng theo thời gian, trừ khi do chấn thương hoặc bệnh khác thì chỉ bị một bên. Đầu gối đau khi đi bộ, đặc biệt là khi đi lên hoặc xuống đồi hoặc cầu thang. Đôi khi, khó để thẳng chân. Có thể nghe âm thanh của khớp khi cử động.

 XQuang Khớp gối bình thường và Khớp gối bị thoái hóa (hẹp khe khớp & gai xương)

Hẹp khe khớp thường thấy ở khoang chày-đùi giữa, mặc dù các khoang chày-đùi bên và ngăn bánh chè cũng có thể bị ảnh hưởng. Hẹp khe khớp giữa hoặc bên có thể dẫn đến chân bị vẹo.

2. Thoái hóa khớp háng:  khó khăn cử động khớp háng. Đau ở mông, háng, bẹn, mặt trong đùi và đầu gối. Tình trạng thường tồi tệ hơn khi di chuyển các khớp háng, mặc dù nó cũng có thể bị khi đang nghỉ ngơi hoặc ngủ.



 XQuang Khớp háng bình thường và Khớp háng bị thoái hóa


X quang khớp háng bị thoái hóa: xơ cứng bờ trên ổ cối, hẹp khe khớp, gai xương. Thông thường, bị cả hai khớp háng , nhưng nó có thể xảy ra chỉ ở một bên do tiền sử chấn thương.

3. Thoái hóa cột sống: 
Khi cột sống bị thoái hóa, đặc biệt là cột sống thắt lưng, những thay đổi liên quan thường từ L3 - L5. Các triệu chứng bao gồm đau, cứng khớp,  thường đau theo rễ thần kinh do hẹp ống sống. Hẹp khe đĩa đệm do thay đổi mặt khớp dẫn đến chèn ép các rễ thần kinh. Trượt đốt sống là một biến chứng thường gặp của bệnh viêm khớp của cột sống thắt lưng.


Cột sống bình thường và cột sống bị thoái hóa (điển hình với hẹp đĩa đệm và gai xương)





4. Thoái hóa khớp xương bàn tay: 

Thoái hóa khớp xương bàn tay thường ảnh hưởng đến các khớp ngoại biên đầu ngón tay (đốt xa: Distal interphalangeal: DIP). Kế đến là các khớp đốt giữa ngón tay (Proximal interphalangeal: PIP), nền ngón tay cái, và các khớp ngón chân cái. 

Ngón tay trở nên cứng, đau và sưng. Có thể hình thành các nốt cứng trên các khớp ngón: 
  • Ở khớp ngón tay đốt xa gọi là Heberden's nodes (thường gặp ở nữ).
  • Ở khớp đốt giữa gọi là Bouchard's nodes.
  • Ở khớp ngón chân gọi là Bunions. 


Qua thời gian cơn đau có thể giảm và cuối cùng biến mất hoàn toàn, mặc dù những nốt có thể vẫn còn. Ngón tay có thể cong nhẹ sang một bên ở các khớp bị ảnh hưởng hoặc phát triển các u nang hoạt dịch trên lưng ngón tay gây đau. 

Trong một số trường hợp, có thể phát triển nốt cứng ở nền ngón tay cái, nơi nối với cổ tay, gây đau & khó khăn khi cử động (như khi viết, mở lọ hoặc chuyển phím).










PHẦN I: ĐẠI CƯƠNG VỀ KHỚP (JOINT)


I. KHÁI NIỆM

Khớp là một phần của hệ thống cơ xương, là nơi các bề mặt của hai hoặc nhiều xương gặp và khớp lại với nhau, cho phép cả hai chuyển động và dễ uốn nắn, thuộc hệ vận động. Có khoảng 400 các khớp trong cơ thể con người. Khớp giống như bản lề. Nếu không có khớp, cơ thể chúng ta sẽ cứng như tấm bảng, không thể uốn cong cánh tay hoặc chân.

II. PHÂN LOẠI  KHỚP

Khớp có thể được phân loại dựa trên chức năng hoặc cấu trúc.

1. Phân loại khớp theo chức năng chuyển động:

a. Khớp động (diarthroses): là khớp mà giữa các xương liên kết có ổ khớp để cử động được thuận lợi. Khớp động có thể cử động tương đối rộng rãi. Hầu hết các khớp ở chi đều thuộc loại khớp động.

b. Khớp bán động (amphiarthroses): là khớp mà giữa các xương liên kết có khe khớp. Khớp này hoạt động kém linh hoạt, biên độ nhỏ. Đặc điểm chung của khớp này là chỉ có lớp sụn ở giữa chỗ tiếp xúc các xương. Ví dụ: khớp giữa các đốt sống, khớp mu, khớp cùng chậu.

c. Khớp bất động (synarthroses): là khớp mà giữa các xương liên kết không có ổ khớp hoặc khe khớp, mà các xương được dính chặt với nhau nhờ mô liên kết sợi hoặc sụn. Khớp này không cho phép chuyển động. Ví dụ các khớp hộp sọ và các khớp gomphosis nối răng vào ổ răng.

Khớp bất động : khớp hộp sọ, khớp Gomphosis nối răng vào ổ răng

2. Phân loại theo cấu trúc:
  
a. Khớp hoạt dịch (synovial): là khớp có ổ khớp chứa chất hoạt dịch làm trơn khớp, cho phép khớp cử động tự do. Loại khớp này phổ biến ở các chi. Khớp đội - chẩm, các khớp đội - trục, các khớp sườn – đốt sống và các khớp sườn - mỏm ngang cũng là những khớp hoạt dịch.

Cấu tạo của khớp hoạt dịch: gồm diện khớp (khoang khớp, hoạt dịch, sụn khớp, xương dưới sụn) và các phương tiện nối khớp (bao khớp, dây chằng, gân, cơ).

Khoang khớp (joint cavity): chứa hoạt dịch, luôn có áp suất âm để khớp có độ bền vững chắc.

Hoạt dịch (synovial fluid): được hình thành qua một quá trình siêu lọc huyết thanh từ các tế bào của màng hoạt dịch. Hoạt dịch cung cấp chất dinh dưỡng cho sụn khớp (vô mạch) và độ nhớt cần thiết để hấp thụ sốc từ những cử động chậm, cũng như độ đàn hồi cần thiết để hấp thụ sốc từ những chuyển động nhanh. Tế bào hoạt dịch cũng sản xuất axit hyaluronic, một glycosaminoglycan – thành phần vô bào chính của hoạt dịch.

Sụn khớp (articular cartilage, hyaline cartilage): mặt khớp của các xương luôn được bọc bằng một lớp sụn trong, mỏng, chắc và dai bao phủ đầu xương để ngăn ngừa các đầu xương cọ sát trực tiếp vào nhau, làm giảm bớt ma sát khi vận động. Sụn khớp được bao quanh bởi chất nền ngoại bào gồm các đại phân tử khác nhau, quan trọng nhất proteoglycans và collagen. Sụn khớp tạo điều kiện cho chức năng khớp và bảo vệ xương dưới sụn bằng cách phân phối tải trọng, duy trì áp lực tiếp xúc thấp, và giảm ma sát ở các khớp. Khi các mặt khớp có hình thể chưa thật thích ứng với nhau, có thể có thêm sụn viền (labrum) để làm tăng bề mặt tiếp xúc với các diện khớp, làm cho áp lực các xương được dàn đều (ví dụ: sụn viền quanh ổ chảo khớp vai, ổ cối ở khớp háng); hoặc sụn chêm (meniscus) là những tấm sụn xơ đệm vào giữa hai diện khớp, nằm xen giữa phần ngoại vi của hai mặt khớp để làm tăng độ thích hợp giữa các diện khớp (ví dụ: sụn chêm ở khớp gối). Cũng có khi hai mặt khớp không tiếp xúc trực tiếp với nhau mà giãn cách nhau bởi một đĩa sụn - sợi gọi là đĩa khớp (discus). 


                                                         
    Sụn viền ở khớp vai                                 Sụn chêm ở khớp gối: nằm giữa lồi cầu đùi và mâm chày



• Xương dưới sụn (subchondral bone).

• Bao khớp (joint capsule): bám vào rìa ngoài chu vi các diện khớp. 

Bao khớp có hai lớp:

* Bao trong là màng hoạt dịch (synovial membrane, bursa): còn được gọi là màng hoạt dịch bao khớp, chứa hoạt dịch, là lớp tế bào biểu mô lót mặt trong của bao khớp cho tới chỗ bao khớp dính vào xương thì lật lên bọc phần đầu xương tới tận rìa sụn khớp, do tổ chức liên kết sợi xốp tạo nên. Lớp tế bào nội mô tiết ra chất hoạt dịch là một dịch trong có màu vàng nhạt, mang tính kiềm, ở điều kiện bình thường hàm lượng chỉ có 0,3 - 2 ml. Trong chất hoạt dịch có chất điện giải, đường và protein. Các tác dụng của chất này là bôi trơn, cung cấp các chất dinh dưỡng cho những cấu trúc bên trong ổ khớp và qua đó giúp duy trì tính bền vững của khớp. Chất dịch giữ cho các mặt khớp không tách rời nhau, như những cái đệm chống lại ma sát.

* Bao ngoài là bao xơ (fibrous capsule): bọc quanh khớp và giữ các xương với nhau, do tổ chức liên kết sợi chắc tạo nên. Tùy chức năng khớp khác nhau mà độ dày mỏng khác nhau. Mỗi đầu của bao xơ dính quanh một đầu xương và đường dính này ít nhiều ở cách xa mép (bờ chu vi) sụn khớp. Bao đủ lỏng để khớp có thể cử động tự do cũng như đủ chắc để giữ cho khớp khỏi bị tổn thương.










Cấu tạo khớp hoạt dịch


• Dây chằng (ligament): là những dải mô xơ kết nối các đầu xương với nhau để tạo thành một khớp, có tác dụng tăng cường cho khớp, hạn chế các cử động không đúng hướng. Có ba loại: dây chằng bao khớp là chỗ dày lên của bao khớp, dây chằng ngoài bao khớp và dây chằng trong bao khớp (nhưng ngoài bao hoạt dịch).

• Gân (tendon): là những dải xơ kết nối cơ với xương. 

• Cơ (muscle): giữ xương tại chỗ và xương cử động được là nhờ cơ co hoặc giãn.

• Mô liên kết (connective tissue), thần kinh (nerve) và mạch máu (blood vessel): thần kinh và mạch máu đi qua khớp thường phân nhánh vào những cơ vận động và cấu trúc của khớp đó.


b. Khớp sụn (cartilaginous): Ở loại khớp này, có một đệm sụn - sợi trắng ở giữa các đầu xương tiếp khớp. Khả năng cử động hạn chế mà khớp có được là nhờ đệm sụn - sợi có khả năng chịu được sức nén ép (hay đàn hồi). Ví dụ, các khớp bán động như khớp mu và các khớp giữa các thân đốt sống.

c. Khớp sợi (fibrous): là các khớp bất động vì các xương liên kết với nhau bằng mô sợi. Khớp giữa các xương sọ (các đường khớp hay khớp khâu), khớp giữa chân răng và huyệt răng (khớp cọc), khớp giữa đầu dưới hai xương chày và mác (khớp dính sợi chày - mác dưới) là những ví dụ về khớp sợi.

Mời các bạn đọc phần II: Đại cương về Thoái hóa khớp/Viêm khớp xương

Asia Clinic, Ngày thứ Bảy, 30/5/2015