Hiển thị các bài đăng có nhãn Triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Ngôn ngữ tiếng Việt rất hay. Có những danh từ ghép mà tổ tiên của người Việt đúc kết mà thành không chỉ vì đơn thuần về ngữ nghĩa, mà còn là những kinh nghiệm sống, kể cả tâm linh, và triết học. Trong số đó, có danh từ Nghề-nghiệp. 

Ở danh từ ghép này có 2 danh từ được ghép lại. Nghề là công việc chuyên môn của mỗi người làm việc hằng ngày để nuôi sống bản thân và gia đình. 

Còn Nghiệp là cái nghề mà nó đeo mang theo mình suốt đời, nhưng trong nghĩa tâm linh, nghiệp còn có nghĩa là hánh động có tác ý phát sinh từ tâm của mỗi người mà ra. Cho nên theo lý thuyết Phật giáo thì Nghiệp liên quan đến phạm trù nhân quả, gọi là nghiệp quả.

Tác ý tốt thì gieo nghiệp tốt từ một xuất phát điểm của cái tâm hướng chân thiện mỹ. Tác ý xấu là phát ra từ một cái tâm xấu đi ngược lại với chân thiện mỹ. 

Kết quả của chữ nghề nghiệp là làm việc chuyên môn của cá nhân suốt đời để nuôi sống bản thân và gia đình, đôi khi cả cộng đồng và dòng tộc. Nó tùy theo tác ý từ tâm của người đó hướng thiện hay hướng ác.

Song, nghề là cái mà chính bản thân người đó chọn được, quyết định được về chuyên môn. Trong khi đó, nghiệp là cái mà cá nhân người có nghề không thể chọn được, mà nó phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội, và tác ý tâm của cá nhân làm chuyển hướng đến nghè mà thành ra nghiệp. Ví dụ, tôi học y khoa, nhưng sau thời gian tôi thấy y khoa không hợp, tôi bỏ ngành y đi kinh doanh. Y khoa là cái nghề tôi đã chọn, nhưng hoàn cảnh xã hội, gia đình và tâm ý của tôi chuyển từ ngành y, tôi đi làm kinh doanh. Và cái nghiệp của tôi là nghiệp kinh doanh, trong khi cái nghề của tôi vẫn là nghề y khoa. Lúc đó, tôi kiêm cả luôn cái nghề kinh doanh, mà tôi phải học hỏi thêm để làm việc kinh doanh.

Trên thế giới không thiếu những cá nhân học một nghề, nhưng lại làm việc, một nghề khác với cái mình học. Cái nghề trái khuấy ấy gọi là nghiệp, và cũng là nghề mới của cá nhân đó. Nhưng cũng có nhiều người học nghề và làm chính cái nghề ấy suốt đời mình, và nó cũng chính là nghiệp của mình. Trong Phật học gọi nghiệp thì luôn gọi là nghiệp quả. Vì nghiệp là do tác ý từ tâm của con người mà ra. Tâm động thì duyên khởi, duyên khởi thì nghiệp sinh, nghiệp sinh thì gieo nhân và gặt quả. Tất cả  là một chuỗi logic của các khái niệm về khoa học xã hội, mà mỗi cá nhân phải tự kiến giải trước khi tư duy và hành động.

Không có gì phải tiếc nuối hay trăn trở khi ta học một nghề, mà phải đi làm một nghề khác. Vì nghề và nghiệp là 1 nhưng là 2, là 2 nhưng là 1. Có đi hết cái nghề mới nhìn thấy được cái nghiệp. Nghiệp ở đây là nghiệp quả phải đeo mang.

Chính vì thế, không phải ngẫu nhiên mà các nhà giàu họ chọn con đường làm từ thiện cho việc giải nghiệp mà mình đã gieo khi còn hung hăng đi tìm sự giàu có, mà họ phải tác ý phi chân, thiện và mỹ. Nhưng cũng có lắm nhà giàu chọn con đường làm từ thiện để cho việc mình làm giàu hơn. Vì không có con đường quảng cáo nào đắc nhân tâm hơn bằng con đường làm từ thiện. Ngược lại, có những con người tâm huyết làm từ thiện vì thấy mình sinh ra đời là để gieo nhân và gặt quả. Quả thì đã có rồi đắng cay ngọt bùi gì cũng phải gặt, không trốn được. Nhưng nhân thì ta có thể chủ động gieo trồng cho hết kiếp nhân sinh này.

Mấy năm gần đây ở Việt Nam, có những nhà giàu lên truyền hình làm từ thiện qua những cuộc đấu giá mua vật phẩm cao ngất ngưỡng, nhưng rồi trốn biệt, không mua. Đó là họ đã tự tác ý gieo nghiệp quả xấu. Kết cục sẽ khó lường.

Trong nghề nghiệp cũng thế, chân thiện mỹ luôn yếu hơn phi chân thiện mỹ, nhưng chân thiện mỹ luôn trường tồn. Ai làm nghề mà với tâm không tốt, ban đầu có thể thành công, nhưng không bền lâu được. Đó là ý nghĩa tận cùng của chữ nghề nghiệp.

Asia Clinic, 16h14' ngày thứ Bảy, 20/9/2014
Bốn vị Tổng thống được tạc tượng, từ trái qua: George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt, Abraham Lincoln. Họ được tạc tượng ở khu Tưởng niệm Quốc gia là một quần thể tác phẩm điêu khắc được tạc vào khối đá granite khổng lồ trên núi Rushmore, gần thành phố Keystone, bang South Dakota, Hoa Kỳ. Toàn thể khu tưởng niệm bao phủ trên diện tích 517 km² và cao 1.745m so với mực nước biển.

Nước Mỹ có được cuộc soán ngôi vị số 1 thế giới từ Vương Quốc Anh là sự góp công lớn không chỉ các chính khách, mà của tất cả mọi con người số 1 nước Mỹ trong tất cả các ngành nghề. Đóng góp đó được hun đúc trong chỉ 5 con người vĩ đại nhất nước Mỹ qua mọi thời đại từ sau ngày nước Mỹ độc lập. Năm con người này được xem là tương đương với 4 vị Tổng thống được xem là nổi tiếng nhất nước Mỹ được khắc ở Khu Tưởng niệm Quốc gia trên núi Rushmore, gần thành phố Keystone, bang South Dakota, Hoa Kỳ. . 

Một bộ phim lịch sử Hoa Kỳ gồm 4 tập bắt đầu từ năm 1865 với 5 con người tiên phong vĩ đại làm nên nước Mỹ ngày nay như: 

Cornelius Vanderbilt (May 27, 1794 – January 4, 1877)

1. Cornelius Vanderbilt, ông cố của Cornelius Vanderbilt là một công dân Hoa Kỳ gốc Hà Lan, có tên họ là, Jan Aertszoon, một nông dân ở làng De Bilt thuộc thành phố Utrecht, của Hà Lan. Ông di cư sang Hoa Kỳ năm 1650, và đổi họ của mình bằng tên làng là Vanderbilt để ngóng tưởng về quê nhà. Đến thế hệ thứ tư thì gia đình Vanderbilot xuất hiện thiên tài Cornelius Vanderbilt - một ông trùm ngành giao thông hàng hải, và là người khai sinh ra ngành đường sắt cho nước Mỹ. 

Không có Cornelius Vanderbilt nước Mỹ sẽ không thể có một hệ thống giao thông phân phối vĩ đại nhất hành tinh như ngày nay. Đế chế Cornelius Vanderbilt được xem như là huyết mạch của nền kinh tế Mỹ từ giữa thế kỷ XIX, khi mà cả thế giới còn ngụp lặng trong chủ nghĩa phong kiến, thì Cornelius Vanderbilt đã gầy dựng và tài trợ đại học tư nhân lừng danh của mình: Vanderbilt University vào năm 1873. Ngày nay Vanderbilt University luôn nằm trong top 20 của những đại học danh tiếng nước Mỹ, không thua kém bất kỳ Ivy League nào.

John Davison Rockefeller, Sr. (July 8, 1839 – May 23, 1937)

2. John Davison Rockefeller, Sr.(cha): Ông là người nổi tiếng nhất của gia đình Rockefeller và là nhà đồng sáng lập ra Tập đoàn Standard Oil. Ông trùm dầu hỏa và là người cùng đứng chung với Cornelius Vanderbilt vào hàng ngũ những người giàu có nhất nước Mỹ. Ngành dầu khí Hoa Kỳ có được ngày nay là từ ông và gia đình Rockefeller - một gia tộc Đức di dân đến Hoa Kỳ. Bốn mươi năm cuối đời, John Davisson Rockefeller Sr. chỉ dành cho việc làm từ thiện cùng với ông trùm Andrew Carnegie.

Ông Rockefeller cũng là nhà tài trợ và khai sinh ra các đại học Hoa Kỳ như, Rockefeller UniversityUniversity of Chicago lừng danh thế giới luôn nằm top 10 của Hoa Kỳ và thế giới, và University of Chicago cũng là trường đại học danh tiếng của Mỹ đầu tiên có nhà khoa học nhận giải Nobel đầu tiên năm 1907, khi giải này mới ra đời. Ngoài ra ông còn là nhà sáng lập ra Central Philippine University để giúp đỡ cho đất nước Phi Luật Tân khốn khổ. Việc gia đình Rockefeller chăm lo giáo dục và làm từ thiện là do tác động lớn của Andrew Carnegie, mà chúng ta sẽ biết sau đây.

Andrew Carnegie (November 25, 1835 – August 11, 1919)

3. Andrew Carnegie: Có thể nói không ngoa là, Andrew Carnegie là cha đẻ ngành công nghệ thép Hoa Kỳ. Nhưng cái vĩ đại nhất của Andrew Carnegie là, ông chính là cha đẻ của lòng nhân từ, tấm gương chói lọi của nhân loại nói chung, và Hoa Kỳ nói riêng, được xem là người khai sinh ra những tổ chức từ thiện cho nước Mỹ từ thế kỳ XIX, và cho toàn cầu sau này. Carnegie sinh ra ở Dunfermline, Scotland vào năm 1835, khi lên 13, ông cùng mẹ di cư sang Hoa Kỳ trong hoàn cảnh rất nghèo, và mồ côi cha. Bắt đầu bằng một chân điện tín viên trong bưu điện, và tìm hiểu đầu tư tài chính vào ngành hỏa sa, ông đã nổi lên như một ngôi sao sáng khi thành lập Công ty thép Carnegie, ở Pittsburgh, để phục vụ cho công nghiệp, mà sau đó ông bán cho J.P Morgan vào năm 1901 với giá 487 triệu USD (tương đương với khoảng 13.6 tỷ đô la vào năm 2013), rồi cùng với J.P Morgan, ông thành lập Tổng công ty thép Hoa Kỳ, và bao nhiêu đầu tư ở các ngành khác. 

Vào năm 1889, khi ông ở tuổi 54, ông nổi tiếng với bài diễn văn: "The Gospel of Wealth" - Nguyên lý của Sự Thịnh Vượng. Trong bài phát biểu này, ông kêu gọi những nhà giàu của Hoa Kỳ hãy làm từ thiện. Từ thiện là gốc rễ của sự thịnh vượng cho cả nhân cách của mỗi người dân Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, mà còn là nguyên lý cho một Hoa Kỳ sẽ là cường quốc số 1 thế giới trong tương lai. 90% tài sản của ông đã hiến cho các tổ chức từ thiện, công trình quốc gia và trường đại học nổi tiếng của ông gầy dựng năm 1900 từ một trường kỹ thuật phục vụ cho công nghệ thép của ông, Carnegie Technical School, mà sau đó, 1912 trở thành Carnegie Mellon University danh tiếng toàn cầu, luôn nằm trong top 30 của các đại học Hoa Kỳ.

Andrew Carnegie được mệnh danh là: Người cứu rổi tinh thần cho nước Mỹ - "Save my Soul". Ông là người tạo dựng nhân cách Mỹ, sức mạnh Mỹ đại diện cho cái chân, thiện, mỹ của nhân loại, và xứng đáng với cái gọi là: Kinh Phúc Âm của Sự Thịnh Vượng - The Gospel of Wealth - bài phát biểu của ông như lời của thánh sống gửi đến nhân loại khổ đau vì thiếu hiểu biết. Ông không chỉ là thánh sống của nước Mỹ, mà còn là vị Thánh vĩ đại nhất của lịch sử loài người bằng xương bằng thịt, chứ không phải là những huyền thoại của các tôn giáo hiện hành.

John Pierpont "J. P." Morgan (April 17, 1837 – March 31, 1913)

4. John Pierpont "J. P." Morgan: Ông là hiện thân người di dân Do Thái có thiên bẩm về tài chính ngân hàng. Ông là thế hệ đầu tiên - được xem là cha đẻ - của nước Mỹ về ngành tài chính ngân hàng. Tập đoàn J.P Morgan của ông ngày nay vẫn còn hùng mạnh, và là một trong những tập đoàn tài chính tư nhân hàng đầu thế giới. Sinh ra và lớn lên ở Connecticut, Hoa Kỳ. Ông được cha mình chuẩn bị cho việc học tập ở nhiều quốc gia: Hoa Kỳ, Ý, Đức và Anh, để trở thành một ông chủ tài chính ngân hàng. Và ông đã làm được điều đó xuất sắc, khi nhận lại Công ty JS Morgan & Co của cha mình qua đời để lại vào năm 1900. 

Từ GS Morgan & Co, ông đã biến nó trở thành Tập đoàn J.P Morgan lừng lẫy toàn cầu ngày nay. Ông được xem là một thế hệ kế thừa cho những thế hệ tài phiệt già nua như Andrew Carnegie đã lỗi thời với câu nói nổi tiếng của người dân Mỹ: "When one ends another begins" - Khi một thế hệ kết thúc thì có thế hệ khác kế thừa - nước Mỹ là thế. Cuối đời, ông cũng nghe theo lời của Andrew Carnegie đi làm từ thiện. Và ông mất ở tuổi 75 tại Ý trong một giấc ngủ.

Henry Ford (July 30, 1863 – April 7, 1947)

5. Henry Ford: Ông là đứa con mang hai dòng máu Ireland của cha, và Anh quốc của mẹ. Ông được sinh ra tại trang trại ở Greenfield Township, Michigan. Ông được xem là nhà cách mạng về đưa mô hình sản xuất dây chuyền Taylor, và quảng cáo, mở chi nhánh hãng Ford đi khắp nơi, vào ngành công nghiệp xe hơi nói riêng và công nghệ sản xuất, quảng cáo nói chung. Mô hình T Ô tô của ông cũng làm một cuộc cách mạng trong sản xuất xe hơi tiện dụng, khi ông đưa ra tay lái xe hơi phải nằm bên tay trái của xe. Với tư tưởng cải cách sản xuất của ông, có thể xem ông là cha đẻ của việc mang những ứng dụng khoa học kỹ thuật tân tiến đến người bình dân trên toàn cầu. 

Có ông, với Học thuyết Ford - Fordism - thế giới đã xích lại gần nhau hơn trong khoảng cách giàu nghèo. Vì không chỉ có đưa xe hơi đến người tiêu dùng bình dân với giá rẻ, mà ông còn đưa ra ý tưởng cho thế giới những ông chủ tư bản chống lại cộng sản là, phải trả lương công nhân cao, và bán cổ đông cho người làm thuê, để họ ý thức được nhà máy, công xưởng chính là của mình. Nó đã góp phần thúc đẩy Hoa Kỳ vươn lên thành siêu cường số 1 thế giới, và con người sống với con người nhân bản hơn. 

Những năm đầu của thế kỷ XX, thế giới các nhà tư tưởng đã có những cuộc tranh cãi về Fordism với Marxism ai sẽ thắng ai. Và hôm nay Học Thuyết Henry Ford đã thắng học Thuyết của Karl Marx trên thực tế khi chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ ngay tại nơi nó sinh ra, và đang suy tàn ở các quốc gia biến tướng trở thành chủ nghĩa tập quyền phong kiến quân phiệt ở các quốc gia lạc hậu như Việt Nam, Trung Hoa, Cu Ba, Bắc Hàn, và Lào còn sót lại. 

Sau đây là 4 tập phim:





Bốn tập phim kéo dài khoảng 6 giờ phiêu lưu với lịch sử phát triển nước Mỹ cùng 5 vĩ nhân của nước Mỹ trong các lĩnh vực công nghiệp đến giao thông vận tải, dầu khí, sắt thép và tài chính toàn cầu sẽ cho ta thấy nước Mỹ thật vĩ đại không chỉ là một Tân thế giới về nhân quyền mà còn là vùng đất của mọi ý tưởng và cơ hội.

Asia Clinic, 15h30' ngày thứ Hai, 25/8/2014
Bài đọc liên quan:

Lâu nay, dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, các thế hệ đi qua chỉ nhìn thấy 6 cặp phạm trù mà Engels đã góp nhặt từ Hegel, Kant, Nietzsche, Tất Đạt Đa, v.v... làm thành cái gọi là duy vật biện chứng. Thực ra, không có sự vật hiện tượng nào thuần vật - duy vật - và thuần tâm - duy tâm. Vì trong vật có tâm, và trong tâm có vật. Không có vật được tâm ghi nhận và làm nên khái niệm cho vật thì vật không phải là vật. Có tâm, mà không có vật thì tâm không thể định hình vật để mà gán cho vật một khái niệm để vật hiện hữu. Cho nên, Tất Đạt Đa đã đưa ra khái niệm sắc sắc không không là ở chỗ này.

Như vậy, trong cuộc sống quanh ta, không chỉ có 6 cặp phạm trù duy vật biện chứng mà còn vô số những cặp phạm trù khác, mà ta phải tự khai phá và sử dụng nó. Làm sao để một con người có thể khai phá những cặp phạm trù ngoài sách vở? Vấn đề ở đây là làm sao để có các thế hệ Việt có tư duy độc lập, có tư duy sáng tạo, và chung nhất của triết học để tự nhận biết sự vật hiện tượng khoa học, và khách quan, không phải đơn giản.

Nếu nhìn dưới tư duy triết học thì Phá và Xây là một cặp phạm trù. Vì để hội đủ là một cặp phạm trù thì trong cái khái niệm A phải có tồn tại cái khái niệm B, mặc dù A và B đôi khi nhìn bề ngoài là đối lập, và ngược lại trong B có A hiện diện. Nhưng về bản chất là hỗ trợ cho nhau và thúc đẩy nhau trong quá trình phát triển của chúng. Phá và Xây cũng là 2 khái niệm mà, trong Phá có Xây và trong Xây có Phá. Cặp phạm trù Phá và Xây cũng giống như cặp phạm trù Nhân Quả của Tất Đạt Đa tìm ra cho nhân loại hơn 2.500 năm trước là vậy. 

Phá là để Xây cái mới tốt đẹp hơn cái cũ, gọi là làm cách mạng. Nó chứng tỏ, trong Phá có Xây. Xây một cái mới tốt đẹp hơn cho tương lai, cũng là tạo tiền đề để phá cái cũ xấu hơn, chưa ổn định, và không thể trường tồn.

Nước Việt ngày nay có lắm bi kịch, những bi kịch chỉ dẫn đến cho một dân tộc vong nô:

Bi kịch lớn nhất là học theo tư tưởng cướp, giết hiếp, nên dân không muốn lao động mà chỉ muốn nhanh làm giàu.

Bi kịch thứ hai là nền tảng gia đình bị tan vỡ. Mất sạch niềm tin vào sự tử tế. Chúng vô cảm và ích kỉ như súc vật - lời của bạn Nguyễn Hồng Hưng.

Bi kịch thứ ba là dân Việt rất dễ bị định hướng theo cái xấu, nhưng rất khó đi theo cái tốt.

Bi kịch thứ tư là không đoàn kết chỉ biết soi mói và chia rẻ.

Bi kịch thứ năm là hèn nhát, nhưng chém gió rất lung. Lên mạng ảo thì đặt lắm nickname rổn rảng, nhưng ngay cả cái tên của mình thì biến mất giữa trời quang mây tạnh.

Bi kịch thứ sáu là chém gió rất dữ, nhưng chả làm được cái gì ra hồn. Hay nói cách khác là lắm thầy nhiều ma. 

Bi kịch cuối cùng là, đa phần người Việt đã thoát khỏi đất nước Việt Nam, nhưng chưa thoát được tư duy của họ đã bị đầu độc ở trong nước. 

Tất cả những bi kịch trên là một hành trình đập phá qua thời gian khoảng 70 năm qua. Từ cái đập phá chế độ thực dân Pháp áp đặt trên nước Việt, đến đập phá rường cột văn hóa Việt để hình thành một xã hội nhiều bi kịch như hiện nay, mặc dù, những người chủ xướng ban đầu là đập phá cái cũ để xây dựng một cái mới đàng hoàng hơn và to đẹp hơn. 

Nhưng giữa 2 khái niệm của cặp phạm trù Phá và Xây, thì ai, kẻ nào Phá cũng dễ dàng, song không phải ai cũng có đủ khả năng để Xây. Đây là cũng là một bi kịch lớn nhất của thời đại mà ta đang hiện sống.

Như vậy, để Xây lại ngôi nhà Việt Nam thì trí thức Việt phải làm gì, ngoài việc chém gió, chửi bới, và đòi lật đổ cái chính quyền đang thói nát hiện nay, nhưng trí thức Việt chưa chuẩn bị để đủ tầm, đủ khả năng để Xây dựng lại giang sơn?

Thử hỏi, ngoài cái lực lượng của đảng cầm quyền đang thói nát từng ngày, từng giờ, và đang phá nát giềng mối quốc gia chủng tộc kia, thì người Việt trong nước, và ngoài nước đang muốn nó sụp đổ có đủ khả năng và lực lượng để thay thế nó, mà Xây lại quốc gia, dân tộc tốt đẹp hơn nó hay không?

Theo tôi là chưa có. Vì người Việt đã bị phân hóa sau khi đảng cầm quyền độc tôn ra đời. Vậy thì việc Xây hay Phá chỉ có đảng cầm quyền nắm trọn quyền hành trong tay từ chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh, văn hóa, giáo dục, truyền thông đến cả tư duy của người Việt trong và ngoài nước, thì chỉ có đảng cầm quyền quyết định được.

Thử hỏi tại sao đảng cầm quyền chỉ giỏi Phá mà không giỏi Xây? Trả lời câu hỏi này chúng ta sẽ hiểu đảng cầm quyền vì cái gì, do cái gì, và đại diện cho ai?

Như vậy, làm cách nào để Xây một nền tảng xã hội Việt trong tương lai, để Phá cái xấu mà đảng cầm quyền đã tạo ra trong gần 70 năm qua? Thời gian là bao lâu mới Xây xong việc này? Những dự án như thế nào để làm được việc này cụ thể, hiệu quả cho nước Việt, thì mỗi người được gọi là "trí thức" của Việt Nam hãy suy nghĩ, làm từng chút một, đoàn kết lại, bao dung và vị tha chứ không nên chém gió, không nên chia rẻ, không nên tự sướng cho rằng mình là cái rốn của xã hội, và vũ trụ để rồi đất nước cứ mãi ngày càng đi xuống như 70 năm qua đời ta có "đảng".

Asia Clinic, 11h26' Chúa nhựt, 01/6/2014
Bài đọc liên quan:

Câu chuyện hình thành Quỹ Tây Du

Từ hôm ý tưởng phải có một Quỹ Tây Du - Go West Foundation - bắt đầu đến nay đã được 1 tháng 7 ngày. Công việc chuẩn bị cho mọi thứ đến nay có thể nói là rất thành công ngoài mong đợi. Chỉ chưa đầy 40 ngày, nhưng từ ý tưởng hình thành, đến một nhóm nhiệt huyết, thể hiện ý tưởng trên logo, có một website và một diễn đàn tạo sân chơi cho thế hệ trẻ Việt Nam, mạnh thường quân đóng góp, và cuối cùng là thực hiện được giấy phép hoạt động chỉ trong 24 ngày - từ ngày 11/4/2014 đến ngày 05/5/2014 - là một kỷ lục không ai có thể chối cải được.

Một khối lượng công việc khổng lồ, nhưng chỉ với 8 con người ta làm xong trong 24 ngày. Điều đó nói lên những gì? Ít ai quan tâm và để ý đến câu chuyện này, nên hôm nay phải mổ xẻ nó trên bình diện triết học và tư tưởng để thấy tiềm năng của con người khi nào được phát huy đến vô tận, và khi nào bị kiềm hãm đến cực tiểu. Bởi mọi vấn đề đều nằm ở tầm tư tưởng, và triết học. Tư tưởng chưa được mở, vì không có triết lý dẫn đường. Khi có một triết lý dẫn đường, tư tưởng sẽ có, và hành động sẽ thông suốt, và nhanh chóng đi đến cái đích mà ta cần đến.

Tiện đây tôi xin cập nhật công khai và công bố kết quả đóng góp của đồng bào mình đến với Quỹ Tây Du chỉ sau 15 ngày ra mắt, với số tiền là 8.156USD. Một con số đáng để vui mừng. Trong đó đứng hàng đầu là đồng bào trong nước, thứ hai là Kiều Bào Hoa Kỳ, thứ 3 là Kiều bào Úc, thứ tư là Kiều bào Châu Âu, thứ 5 là Kiều bào ở Hàn Quốc, thứ 5 là Kiều bào Canada, và các quốc gia khác trong số 76 đóng góp cho đến 8hAM ngày 20/5/2014.

Chuyện giàn khoan HD-981 của Trung Cộng xâm chiến biển Đông

Song hành với việc chúng tôi thành lập Quỹ Tây Du - Go West Foundation - thì tình hình biển Đông bắt đầu dậy sóng. Bắt đầu bằng thông tin báo chí về câu chuyện giàn khoan HD-981 của Trung Hoa xâm nhập vào địa phận lãnh hải Việt Nam, cho đến nay đã 19 ngày. Trung Cộng nham hiểm khi họ lấy ngay cái ngày mà Bắc Việt chiếm toàn bộ miền Nam Việt Nam - 30/4/2014 khi chính quyền và dân Việt đang say sưa tự sướng với cuộc chơi suốt 5 ngày để "ăn mừng" cuộc xâm chiếm cách đây 39 năm - để hạ và đặt giàn khoan dầu HD-981 cách đảo Lý Sơn 119 hải lý, trong khi thềm lục địa thuộc đặc quyền kinh tế Việt Nam trên biển là 200 hải lý. Nhưng mãi đến ngày 12/5/2014 thì báo đài mới đưa tin, khi tờ báo Hoàn Cầu Trung Hoa đưa tin trước, như một khẳng định chủ quyền Trung Cộng trên toàn biển Đông ở phía Bắc.

Vị trí giàn khoan HD-981 của Trung Cộng xâm chiếm lãnh hải Việt Nam vào ngày 30/4/2014 - Ảnh của VnExpress

Ban đầu, có một sự ủng hộ ngầm của chính quyền hiện tại của Việt Nam để dân đi biểu tình chống Trung Cộng bành trướng. Nhưng do chủ quan, hoặc do một mưu đồ gì đó mà, chính quyền đã để bọn côn đồ đập phá các công ty đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam, cụ thể là các công ty của Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, v.... Để rồi, hôm nay chính quyền ra thông báo cấm đi biểu tình dưới danh nghĩa của thủ tướng trên cả mọi hệ thống truyền thông. Vì thế cho nên, cộng đồng Việt Nam đặt một câu hỏi là: "Tại sao chính quyền làm ngơ không chửa cháy các công ty Đài Loan bị đốt, đập phá và hôi của trong ngày 13/5/2014 tại Bình Dương và tại Vũng Áng Hà Tĩnh?".

Tại sao nhà máy FDI tại khu kinh tế Bình Dương bị đốt mà không có lực lượng phòng cháy, chữa cháy tỉnh đi cứu hỏa? - Ảnh của Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Ông Bùi Trọng Văn dẫn đầu đoàn đàm phàn bồi thường của Việt Nam lén lút đến Đài Loan ngày 16/5/2014. Ảnh của báo www.focustaiwan.tw

Rồi sau đó, lại lén lút cử ông Bùi Trọng Văn làm trưởng phái đoàn ngoại giao sang thương thảo với chính quyền Đài Loan, khi Đài Loan lên tiếng đòi kiện và bồi thường. Bên cạnh đó, New York Times đưa tin ông Tập Cận Bình từ chối tiếp ông Nguyễn Phú Trọng hôm 12/5/2014, nhưng lại tiếp phái đoàn bà Nguyễn Thị Doan sang cầu kiến giảng hòa.

Video clip của trang web thủ tướng Việt Nam như một lời hiệu triệu ngày 08/5/2014 do Kênh 13 thực hiện

Tới giờ này, chưa có bất kỳ một tuyên bố chính thức nào ở cấp nhà nước của phía Việt Nam về vụ xâm chiếm biển Đông này của Trung Hoa, ngoại trừ câu tuyên bố của ông thủ tướng tại Hội nghị Asean, hành động của Trung Hoa trên biển Đông là thực sự nguy hiểm. Đó là một bất thường. Bất thường hơn là viếng thăm, và cầu kiến kẻ xâm lược giang sơn mình. Càng bất thường hơn nữa là ngăn chặn người biểu tình ôn hòa, nhưng tiếp tay kẻ biểu tình đập phá.

Nhưng điều bất thường nhất là, khi phái đoàn Việt Nam bắt đầu sang cầu kiến Trung Cộng, thì Phillipines tố cao Trung Cộng xây dựng sân bay trên đảo Gạc Ma - đảo mà Trung Cộng đã xâm lược của Việt Nam vào năm 1988 - song không có một sự chú ý nào của báo chí của đảng cầm quyền, ngoại trừ vài dòng tin ngắn ngủi của vài tớ báo. Người ta lại đặt một câu hỏi lớn là: "Liệu câu chuyện giàn khoan HD-981 có là cái loa phường để át tiếng xây dựng căn cứ quân sự của Trung Cộng trên đảo Gạc Ma, hòng mai sau toàn bộ Trường Sa và biển Đông trở thành của Trung Cộng không?"

Chiến lược xây sân bay ở đảo Gạc Ma thuộc Quần đảo Trường Sa của Việt Nam của Trung Cộng nhằm khống chế Việt Nam và biển Đông do báo Hoàn Cầu của Trung Cộng đưa tin.

Ngày 19 Tháng Một Năm 1974, Trung Cộng chiếm Hoàng Sa dưới tay của Việt Nam Cộng Hòa, có sự làm ngơ của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng sản, thì đúng ngày Việt Nam Cộng sản xâm chiếm Việt Nam Cộng Hòa 39 năm sau Trung Cộng xâm chiếm biển Việt Nam ở phía Bắc Trung Bộ và miến Bắc Việt Nam.

Tháng 3 Năm 1988, Trung Cộng xâm lược 3 đảo của Trường Sa, trong đó có Gạc Ma, thì ngày 14/5/2014 Trung Cộng xây sân bay khẳng định chủ quyền, và đặt căn cứ quân sự để cai quản toàn biển Đông. Tới đây, nhân dân lại đặt một câu hỏi cho ngàn năm sau: "Vậy thì ai có tội tiếp tay để mất Hoàng Sa, Trướng Sa và biển Đông, mà Nhà Nguyễn đã dày công vun đắp suốt hơn một thế kỷ?"

Lúc Việt Nam yếu nhất về nội lực và ngoại giao là lúc Trung Hoa xâm chiếm lãnh thổ bờ cõi chúng ta.



Một sinh viên Y khoa đã bị 1 đám côn đồ của chính quyền vây đánh tại trung tâm Sài Gòn sáng này 18/5/2014

Và sáng nay - 18/5/2014 - chính quyền đã thực hiện hành động khẳng định của mình với Trung Cộng đối với người biểu tình ôn hòa chống trung Cộng xâm lược ngay giữa trung tâm Sài Gòn.

 Nhưng chính quyền không ngăn cản hàng trăm côn đồ đập phá và hôi của vào ngày 13/5/2014 ở các công ty đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại Bình Dương. Liệu những đứa trẻ ngây thơ này tương lai chúng có thể trở thành những nhân cách lớn đưa đất nước lâm vào họa mất nước như hôm nay?

Luận

Đem chuyện Quỹ Tây Du sánh với chuyện bảo vệ lãnh thổ chủ quyền đất nước là điều không nên làm, song lại có một điểm chung đối lập giữa phá và xây nhân cách lớn của Việt Nam. Tôi đưa 2 câu chuyện này để đi đến việc nhìn 2 triết lý, 2 tư tưởng, và soi rọi tư tưởng Khẩu Khâu, mà ngày nay hầu hết trong người Việt, người Trung Hoa vẫn còn mang nặng trong tư duy. Nó đã góp phần lớn trong việc hình thành chuyện ngàn năm nô lệ Trung Hoa. 

Go West Foundation với hiến chương tạo ra những thế hệ Việt có tư duy độc lập, hòa nhập văn hóa Đông Tây, hình thành những thế hệ có tầm tư tưởng, và hành động của những công dân toàn cầu hướng đến chân thiện mỹ, và tự lực tự cường cho nước Việt ngày mai. Triết lý ấy đã giúp những con người sáng lập ra nó, và những ai đang đau đáu với vận nước đang suy vong, hết lòng góp sức. Và nó đã ra đời chỉ sau 24 ngày. 

Go West Foundation có trường tồn, và có tạo ra được những thế hệ Việt có nhân cách lớn để lo Tổ quốc tự lực, tự cường hay không còn là một dấu hỏi. Đấu hỏi đó là liệu Hội đồng Quỹ Tây Du có đủ sức lèo lái nó trường tồn và gặt hái thành công hay không, khi đa phần người Việt thờ ơ với thời cuộc vì nhiều lý do.

Nhưng, chuyện Quỹ Tây Du đã bắt gặp những thanh niên rất giỏi, rất thông minh, song nó lại liên quan rất lớn khi chúng tôi kiếm tìm lại chỉ 3 người đã từng được tư vấn miễn phí để lấy học bổng Hoa Kỳ, về làm phim nói về lịch sử ra đời Quỹ Tây Du, thì có các bạn trẻ từ chối thẳng thừng. Khi bàn về vấn đề con người và nhân cách thế hệ trẻ hiện tại và tương lai trong Hội đồng Quỹ Tây Du, một bạn trong Hội đồng Quỹ đã phải thốt lên rằng:

"Bởi thế, tôi nghĩ chúng ta sau này tuyển du học sinh thì cũng cần phải tuyển loại người có tầm vóc lãnh đạo tương lai, biết thương người, và sẵn sàng hoạt động vì cộng đồng(social activism) để giúp người. Như tôi đã nói, có loại người rất thông minh về học hành, nhưng họ chỉ chăm đầu vào học để thành tài. Khi ra trường đi làm thì chỉ chăm đầu làm việc, boss sai gì làm đó, yên phận sống. Như thế thì chỉ phí tiền đầu tư nâng cao dân trí cho dân tộc của đồng bào đã tin tưởng chúng ta. 
Những hãng xưởng ở Mỹ có rất đông người Á Đông, và đại đa số là người Hoa (Trung Hoa, Hồng Kông, Đài Loan) làm việc kỹ sư, kế toán, nói chung là thành phần nhân viên văn phòng - "white collars". Và rất nhiều người trong số họ, từng là du học sinh rồi ở lại làm việc. Có rất nhiều người tôi nói chuyện ra trường điểm cao, nên được hãng ở Mỹ mướn làm. Nhưng tỉ lệ lãnh đạo trong những hãng này, thì Á Đông lại thấp so sánh với Mỹ trắng. Có lẽ vì văn hoá Khổng Tử Á Đông làm cho con người quen nghe lệnh, rồi làm việc xông xáo làm cu li; nhưng khi đứng ra lãnh đạo, thi thụ động hơn là chủ động. Chúng ta cần những người chẳng những thông minh về đường học vấn, mà còn phải chủ động biết ý nghĩa cuộc sống không phải chỉ ra trường, lập gia đình, có con cái, rồi chỉ muốn an phận với cuộc sống đó, mà phải đứng lên giúp người khác. Mỹ có rất nhiều hội đoàn phi vụ lợi - non-profit - để làm việc từ thiện, hoặc social acitivism, đó là sự khác biệt với xã hội Việt Nam nói riêng và xã hội chủ nghĩa nói chung."

Chuyện biển Đông như tôi đã trình bày hôm nay, và viết trong nhiều năm qua, vấn đề đặt ra là nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay vì quyền lực của mình đang có và sẽ tồn tại dù rất ngắn trong tương lai, mà ai cũng thấy rõ; hay là họ vì cái chung của dân tộc và Tổ quốc? Và, cái vì đó bị thụ động phải cầu kiến giản hòa có phải chăng nó nằm ở bản chất của cái tư tưởng của Khổng Khâu với tam cương thấm vào trong từng huyết mạch - phải chịu thân chư hầu - hơn là một Hội nghị Diên Hồng hiệu triệu toàn dân đưa ra sách lược chiến lược phải làm gì cho Tổ quốc đang lâm nguy.

Kết

Các bạn trẻ hãy lựa chọn giữa: thờ ơ với cuộc sống, tiếp tục phá nát đất nước này vào họa mất nước, và/hoặc bạn sẽ trở thành nhân cách lớn biết chăm lo bản thân, gia đình và xã hội. Hãy chọn đi kẻo muộn.


Asia Clinic, 18h29' Chúa Nhựt, 18/5/2014
Bài đọc liên quan:

Có bạn trẻ hỏi: 

"Cháu chào bác!Bác cho cháu hỏi một điều không liên quan đến chính trị ạ!Cháu đọc blog thấy bác có sự nghiên cứu và cái nhìn toàn diện trên mọi lĩnh vực. Bác có thể cho cháu biết phương pháp, bí quyết tiếp nhận kiến thức và tìm hiểu (hay đúng hơn là phương pháp học) của bác như thế nào để có sự hiểu biết cặn kẽ nhiều đến như vậy ạ? Bác có sử dụng nguồn thông tin đáng tin cậy nào về khoa học và xã hội không ạ?Cháu là thanh niên cũng ham đọc ham tìm hiểu, mong bác chỉ giúp cháu ạ. Cháu cảm ơn bác!"

Tôi xin trả lời như sau:

"Không ai chứa nổi cả một kho tàng kiến thức nhân loại được. Vì bộ não của con người là giới hạn, nhưng kiến thức của nhân loại là vô hạn. Song chúng ta có cách để chứa được những điều cốt lõi của kiến thức nhân loại.

Cách đó là phương pháp luận khoa học. Phương pháp luận khoa học là gì? Nó rất đơn giản, nó là nền tảng của triết học, và được phát biểu ngắn gọn như sau:

Hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đem ra áp dụng cho thực tiễn, đó là con đường nhận thức chân lý khách quan. Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong.

Suy cho cùng sách vở là cũng đúc kết từ thực tế khách quan. Nên vấn đề là, khi ta sống ta phải quan sát và ghi nhận khách quan trung thực mọi sự vật hiện tượng và đúc kết cho mình. Sau đó áp dụng đúc kết đó vào thực tế khách quan để rút ra bài học giáo khoa cho chính mình.

Với cách đó, ta có thể không đến trường lớp, nhưng bản thân ta có thể trở thành là một cuốn sách giáo khoa của chính mình mà không cần đọc sách nhiều.

Khi đọc sách, không nên vào sách mà đọc từ đầu đến cuối. Cách đọc sách nhanh mà tốt nhất của bản thân tớ là, xem mục lục trước để xem tác giả muốn nói những tư tưởng gì trong sách. Sau đó chỉ nên chọn những chương, phần mà mình thấy mình chưa biết để đọc, mà không cần phải đọc hết. Vì chỉ cần đọc mục lục là biết tác giả muốn viết gì trong mỗi phần chương của sách.

Đi mua sách cũng vậy, chỉ cần xem mục lục là biết có nên mua hay không? Nhiều cuốn sách chỉ cần 1 chương mà ta chưa biết, ta cũng phải đành lòng bỏ tiền ra mua, chứ không phải thấy cái tựa kêu rổn rảng và hay là bỏ tiền ra mua. Nhiều cuốn sách trông tựa rất kêu, nhưng lật mục lục ra xem thì chả có gì để đọc.

Khi đọc sách cần tìm từ quan trọng nói lên ý hoặc tư tưởng chính mà đọc. Không nhất thiết phải đọc hết tất cả các chữ viết trong sách mới hiểu hết được sách.

Có 2 loại người đọc sách: Loại người chiếm phần đông là người đọc sách để tìm bóng dáng quá khứ, hiện tại và tương lai của mình trong đó. Loại người thứ hai hiếm hơn, là đọc sách đi tìm tư tưởng hay ý chính của tác giả mà mình chưa biết.

Đọc sách là tìm ý chính và tư tưởng của tác giả mà mình chưa biết, chứ không nên tìm bóng dáng mình trong đó. 

Sau khi đúc kết thực tế khách quan, hoặc đọc sách thì phải biến nó thành ý tưởng của mình một cách ngắn gọn và chung nhất cho mọi sự kiện, để sau này dùng nó.

"Học nhiều không phải là hay. Đọc nhiều không phải là hiểu biết nhiều. Cũng như ăn nhiều không phải là khỏe, vấn đề là phải biết cách học chọn cái mà đọc, mà ăn. Hãy cho tôi một đứa trẻ, tôi sẽ cho nó biết những gì nó cần biết mà người khác khó có thể biết, nhưng những cái mà người khác biết, nếu cần nó sẽ biết dễ dàng". Đây là câu nói nổi tiếng của nhà triết học, giáo dục học người Pháp Jean-Jacques Rousseau!

Sống cả đời người trăm năm thì rất ngắn, nhưng cũng rất dài. Ngắn khi ta luôn tư duy mọi việc theo đúng phương pháp luận khoa học. Lúc đó, ta sẽ thấy mình không đủ thời gian để sống đúng ý nghĩa cho đời. Nhưng sẽ rất dài, khi mọi tư duy ta bị đóng băng, không còn gì để tư duy. Ngay cả Hoa Kỳ, người ta thống kê lại, cũng chỉ có 4% dân số là thực sự sống và tư duy liên tục trong cả cuộc đời. Số ấy luôn thành đạt và có cuộc sống an toàn.

Tất cả những điều trên đã giúp tôi nắm nhiều kiến thức mà không quá tải. Nên đôi khi tôi viết như cái máy, như nhiều bạn trẻ đã từng bình luận trên nhà của tôi."

Thân mến


Asia Clinic, 15h14' ngày thứ Tư, 02/4/2014
Bài đọc liên quan:

Nhiều thế hệ - đặc biệt ở các quốc gia cộng sản cầm quyền - lâu nay học chủ thuyết Marx và Lenin nhưng chưa hiểu nó là gì? Nghe người ta bảo nó là triết học thì cũng ừ, gật đầu, nó là triết học. Đó là sai lầm của nhiều thế hệ ở các nước cộng sản.

Thực chất, trong 3 bộ phận của chủ nghĩa Marx Engels gồm có: Duy vật biện chứng, kinh tế chính trị học và duy vật lịch sử, thì chỉ duy nhất có bộ phận duy vật biện chứng của Engels đúc kết - mà không có gì mới - từ các trào lưu triết học trước đó, rồi đem tặng cho Marx là triết học thực sự. 

Duy vật biện chứng nó là một vốn quý của nhân loại, không ai có thể chối cãi được. Vì nó giúp cho nhân loại rất lớn trong phương pháp luận khoa học. Nhưng nó lại không phải là của Marx, mà nó là của Engels đúc kết lại, và tặng Marx để Marx làm nền tảng cho việc nghiên cứu, và đưa ra 2 bộ phận còn lại theo tình hình thực tế châu Âu giữa, cuối thế kỷ XIX.

Hai bộ phận còn lại như đã nói, là kinh tế chính trị học và lịch sử phát triển của các hình thái chính trị xã hội mà Marx đã "tưởng tượng" và đặt tên cho chúng. Nhưng sự tưởng tượng của Marx lại sai ngay trong cái đặt vấn đề và giải quyết vấn đề để đi đến kết luận của ông ta.

Marx đã dùng Duy vật biện chứng và sa đà vào đặt nền tảng cho chủ thuyết của mình là Vật chất quyết định Ý thức ngay từ đầu. Nhưng khi Marx đi vào Duy vật lịch sử, ông lại "tưởng tượng" một cách cảm tính mà không khoa học thực chứng. Với sự cảm tính đó Karl Marx đã đẻ ra một hình thái chính trị xã hội loài người sau tư bản là, chủ nghĩa cộng sản khoa học và chủ nghĩa xã hội là lúc loài người sống với nhau bằng Ý thức quyết định vật chất! Nên có thể gọi bộ phận thứ 3 của Marx Engels là Duy Tình Lịch Sử thì đúng hơn là Duy Vật Lịch Sử!

Và cũng vì sa đà quá nhiều vào duy vật biện chứng mà, chủ thuyết do marx đẻ ra đã quá sắc máu, thiếu nhân bản. Hệ lụy của chủ thuyết này đã đẻ ra hình thái chính trị độc đoán và tàn ác. Nó đã tạo ra những lãnh tụ cộng sản trên thế giới đã giết chết hàng trăm triệu nhân mạng từ chủ thuyết này. Ngày nay, nó đã trở thành di tích của lịch sử, mà không ai còn muốn nhắc đến, chỉ còn các chính khách vì tham vọng cá nhân dùng nó để phục vụ dục vọng xấu xa nhất của loài động vật bậc thấp.


Sai lầm này của Marx không phải là nhân loại không biết và chưa nghĩ đến, mà ngay từ nửa cuối của thế kỷ XVIII, tại Tân lục địa - Hoa Kỳ - các quốc phụ của nước Mỹ đã bắt đầu bằng cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1776 lập ra nước Mỹ, trong cuộc cách mạng Trà. Từ đó, hình thành một hình thái chính trị xã hội hoàn hảo nhất, đúng với duy vật biện chứng nhất với hình thái chính tri đa nguyên và tản quyền. Và Hoa Kỳ đã đi trước cả Marx và Engels 72 năm. Mặc dù Marx và Engels đi sau, nhưng lại đi sai quy luật xã hội học. Vì mãi đến 1848 Marx và Engels mới cho xuất bản tư tưởng của mình, trong khi đó, 1776 các Quốc phụ Hoa Kỳ đã làm việc này.

Đến đầu thế kỷ XX, Lenin - một chính khách lỗi lạc đúng nghĩa - đã vớ phải lý thuyết của Marx và Engels lúc này đã quá lạc hậu với nền kinh tế công nghiệp ra đời từ giữa cuối thế kỷ XIX và hoàn thiện dần. Nhưng chủ nghĩa Marx và Engels lại có thể dụ dỗ được dân cùng khổ nhưng vô học. Lenin đã hoàn thiện nó thành bộ Lenin toàn tập và áp dụng ở Nga, rồi biến cả Đông Âu thành Liên Xô và các chư hầu. Lenin đã có "công lớn" khi ông kéo một nửa nhân loại quay về lại chủ nghĩa phong kiến tập quyền, với hình thái chính trị xã hội đơn nguyên tập quyền mà ông đã vẽ ra, nhưng với cái tên rất mỹ miều - chủ nghĩa xã hội. Nếu nước Pháp có Nã Phá Luân kéo người Pháp quay lại Phong kiến sau Cách Mạng Dân Chủ Tư sản Pháp 1789, để hơn một thế kỷ sau Pháp mới thoát ra khỏi phong kiến, thì tội của Lenin với nước Nga là đã kéo lùi Đế Quốc Nga quay về phong kiến 70 năm!

Song như đã nói ở trên, do Marx đã có tầm nhìn ngắn và do ông thiếu khả năng nghiên cứu khoa học, nên ông đã đặt nền tảng chủ thuyết là A quyết định B, và kết luận là B quyết định A, và cuối cùng những gì Lenin xây dựng đã bắt đầu sụp đổ tại ngay tại nơi ông sinh nó ra. Và cho đến ngày nay, chủ nghĩa Marx Lenin chỉ là con bài cho các chính khách dùng để bảo vệ ngai vàng kiếm ăn trên tổ quốc và dân tộc mình. Đó là bi kịch của Marx, Engels và Lenin để lại cho nhân loại thiếu hiểu biết trên toàn cầu.

Dù lạc hậu, và sai lệch với nguyên lý khoa học, nhưng chủ nghĩa Marx Lenin cũng có công lớn là làm đối trọng để thế giới tư bản phát triển vượt bậc trong cuộc chạy đua giành quyền thống trị toàn cầu. Ngày nay, tư bản thắng và cộng sản thua thì ai cũng rõ. Nhưng tại sao cộng sản vẫn còn sống và tồn tại? Vì nó phục vụ cho lợi ích của giai cấp phong kiến kiểu mới cầm quyền. Nhưng nó sẽ sụp đổ và đi vào bóng tối là điều chắc chắn sẽ có trong tương lai gần. Vì nó phi khoa học và không thực tế.

Hy vọng với một chút sơ lược lại lịch sử hình thành về cả lý thuyết và thực tiễn xã hội học thế giới này sẽ giúp người nào chưa hiểu, nắm được cái chính của vấn đề sẽ nhận rõ chân giá trị của chủ nghĩa Marx Lenin.

Asia Clinic, 15h48' ngày thứ Năm, 23/01/2014
Bài đọc liên quan:
+ Quân bài đã chia - vấn đề còn lại là ta
+ Tạm thời trong ngắn hạn, nhưng xấu dài hạn
+ Tương lai chính trị, kinh tế và an ninh toàn cầu một thế kỷ tới
+ Vật thế chấp cho các cường quốc
+ Quay về hệ thống Bretton Woods
+ Đời không có chú Sam đời mất vui
Tương lai Trung Hoa về đâu?
+ Đã đến lúc tháo chạy khỏi nơi trú ẩn vàng
+ Cuối năm 2013 làm gì để bảo toàn vốn?

Bản chất của loài người nói riêng, và muôn loài nói chung là tư hữu và quyền lực. Mỗi con người luôn có một tiềm năng vô hạn về sức mạnh tự thân cả phần xác, lẫn phần hồn. Vấn đề của xã hội là làm sao cho những cá nhân ấy sử dụng hiệu quả nhất mọi khả năng của họ, và biết kết hợp, dung hòa tất cả các khả năng cùng với bản chất của con người của toàn xã hội một cách hiệu quả nhất, để làm nên sức mạnh quốc gia. Nhiệm vụ này là nhiêm vụ của chính trị, vì chính trị là nghệ thuật của sự có thể.

Mỗi quốc gia được hội tụ 3 yếu tố quan trọng trong việc thực hiện sức mạnh tổng thể của mình: Thiên, Địa và Nhân. Trong 3 yếu tố trên, không yếu tố nào quan trọng hơn yếu tố nào, mặc dù, con người - Nhân - là chủ thể có thể làm thay đổi 2 yếu tố còn lại - Địa Lý và Thiên Thời - có thể tăng mạnh thuận lợi, hoặc giảm thiểu những khó khăn. Hoa Kỳ có đủ 3 yếu tố này một cách tương đối hoàn hảo nhất toàn cầu.

Lịch sử và sứ mạng Hiệp ước Bretton Woods

Với đầy đủ 3 yếu tố Thiên, Địa và Nhân những Quốc Phụ của Hoa Kỳ đã làm nên một nền chính trị biết phát huy và kết hợp hết toàn sức mạnh của một nền văn hóa đa chủng tộc, những đứa con 5 cha, 7 mẹ quy tụ về đây. Và sau chiến tranh thế giới I, Hoa Kỳ đã trở thành cường quốc số 1 của toàn cầu. Nhưng mãi đến sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 1929 - 1933, thì sức mạnh siêu cường của Hoa Kỳ mới thực sự làm cho thế giới phải cần đến họ. Kết cục là, đến giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới II, tháng 12/1944 hơn 70 quốc gia và hơn 300 chuyên gia chính trị, kinh tế buộc lòng phải họp nhau ở thành phố Bretton Woods của tiểu bang New Hampshire, để lập ra một hệ thống tiền tệ, với cái gọi là Hệ thống Bretton Woods - hay còn gọi là Hiệp ước Bretton Woods: Bretton Woods system - hòng kiểm soát kinh tế và khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu.

Với Hiệp ước Bretton Woods, trung tâm quyền lực kinh tài phải dời đô từ cựu lục địa châu Âu, mà đại diện là Thị trường Chứng khoán Luân Đôn - LSE: London Stock Exchange - của Vương Quốc Anh, để sang Tân Thế giới là thành phố Nữu Ước của Hoa Kỳ - NYSE: New York Stock Exchange. Ngoài ra, điều căn bản là tất cả các giá trị đồng tiền của các cường quốc kinh tế lúc bấy giờ phải lấy giá trị vàng, và đồng Đô la Mỹ làm mốc để neo đậu cố định, khi bất kỳ một ngân hàng trung ương của quốc gia nào muốn in thêm tiền thông qua quốc hội để bơm vào nền kinh tế quốc gia ấy, phải đóng vào kho chứa vàng ở New York một lượng tương đương. 

Để cho dễ hiểu, lấy ví dụ, theo Bretton Woods thì 1USD ăn 2 đồng Đức Mã, tương đương 120 Yên Nhật, tương đương với 0,5 Bảng Anh, tương đương với 1,5 Quan Pháp, v.v... Và cứ 35USD tương đương với 1 ounce vàng 9.999. Bất kỳ quốc gia nào muốn in tiền bơm vào nền kinh tế của quốc gia ấy, và lưu thông trên toàn cầu thì phải ký quỹ tại kho vàng New York một số vàng tương đương. Hoa Kỳ có thêm sức mạnh vô song của đồng đô la vĩnh cửu từ đây. Hay nói dễ hiểu là tất cả các đồng tiền gọi là Tiền Kim Bản Vị.

Đây là một Hiệp ước có tính khoa học để ngăn chặn khủng hoảng kinh tài của một quốc gia, khu vực dưới sự điều hành của Hoa Kỳ. Mà nếu không có Hiệp ước này thì các quốc gia riêng lẻ có thể bị khủng hoảng kinh tế do chính trị sai lầm, kéo theo khủng hoảng kinh tế khu vực, và toàn cầu vì mất cân bằng quy luật cung-cầu trong chính sách kinh tế. Hiệp ước Bretton Woods tồn tại được từ 1944 đến 1971, 26 năm kinh tế toàn cầu sóng yên biển lặng.

Nhưng, đời lại có những chữ nhưng bắt nguồn từ bản chất của con người - tư hữu và quyền lực. Nên phải quay về một chút lịch sử toàn cầu.

Sau chiến tranh thế giới II, theo Hiến chương Liên hiệp quốc một số quốc gia có tiền án, tiền sự đi gieo rắc chiến tranh trong 2 kỳ thế chiến bị thua trận - Đức, Ý và Nhật - không được thành lập quân đội, để đi xâm lược các nước khác, mà chỉ để phục vụ bảo vệ an ninh quốc phòng. Nhưng, các đồng minh và kẻ thù trong chiến tranh thế giới II lại đảo lộn vì tư duy của các chính trị gia đi theo 2 con đường có 2 ý thức hệ khác nhau - Tư bản và Cộng sản. Cho nên, Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương - khối NATO: North Atlantic Treaty Organization hình thành. Trong đó, điều quan trọng hàng đầu là, Hoa Kỳ đảm bảo an ninh cho các quốc gia trong tổ chức này, để phòng vệ với sự xâm lược của cộng sản từ Liên Xô và Đông Âu tràn sang Tây Âu bằng vũ lực, trong đó có Đức, xưa là kẻ thù Hoa Kỳ trong thế chiến, nay là đồng minh trong NATO. Ở châu Á, có Nhật Bổn là một thành viên trong bên thua cuộc trong chiến tranh thế giới II cũng phải chịu dưới sự bảo trợ an ninh quốc gia từ Hoa Kỳ, để không bị khối cộng sản từ Trung Hoa xâm lược.

Sau 20 năm được bảo trợ an ninh quốc phòng Đức và Nhật yên ổn làm ăn, toan lo nghèo khó. Cuối thập niên 1960, Đức và Nhật đã trở thành cường quốc kinh tế, và chiếm hơn 25% thị phần kinh tế toàn cầu, đồng thời còn có thể mở rộng thị trường trên toàn cầu. Hoa Kỳ thuyết phục Đức và Nhật nâng giá trị đồng Yên và Đức Mã lên cao ngang tầm với giá trị thị trường mà 2 nước này chiếm lĩnh, nhưng Đức và Nhật không đồng ý. Họ đòi vai trò đồng tiền của họ phải được bảo trợ bằng Hiệp ước Betton Woods đã cùng nhau thỏa thuận vào tháng 12/1944, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giá thành hàng hóa xuất khẩu, và cạnh tranh với nền kinh tế siêu cường của Hoa Kỳ. Điều đó đã buộc Tổng thống Richard Nixon phải hủy bỏ Hiệp Ước Bretton Woods vào tháng 8 năm 1971. Kinh tế thế giới trở lại thời kỳ bấn loạn, cứ theo chu kỳ 7-8 năm có một cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, có thể dẫn đến toàn cầu, như giai đoạn trước khi có Bretton Woods ra đời.

Sau khi đơn phương rút ra khỏi Hiệp ước Bretton Woods tháng 8 năm 1971, các quốc gia đã đóng quỹ vàng cho New York đòi lại số vàng mà mình đã ký gửi suốt 26 năm qua, nó lên đến 24 ngàn tấn vàng. Nhưng điều này hoàn toàn không quan trọng, vì lúc ấy dự trự vàng chỉ riêng Hoa Kỳ đã lớn hơn tổng dự trữ vàng của 9 nền kinh tế top ten còn lại. Hoa Kỳ lại nghĩ ra một chiến lược quản trị toàn cầu, khi mà đồng tiền không còn neo đậu vào vàng. 

Bretton Woods ra đi cái gì thay thế?

Đã có dầu khí. Có nghĩa là, sau 1971, toàn bộ vàng, tiền của toàn cầu có một cái mốc mới là dầu hỏa. Vì thế giới lúc này không có vàng không đáng lo ngại, nhưng không có dầu thì các quốc gia trên thế giới khó lòng phát triển khi nền kinh tế từ nông nghiệp đã chuyển mình sang kinh tế công nghiệp từ sau chiến tranh thế giới II. Có nghĩa là, lâu nay giá đồng tiền các quốc gia neo vào vàng, và dầu hỏa theo đó mà được ấn định giá. Nay Bretton Woods bị Hoa Kỳ đơn phương hủy bỏ, thì cũng chính Hoa Kỳ mặc nhiên, luật bất thành văn xây dựng một thời kỳ mới, mà ở đó dầu hỏa là cái mốc mà tất cả các đồng tiền và cả quý kim vàng cũng phải neo vào đó, làm cái mốc giá trị cho mọi sự trên đời.

Lại phải quay về một chút lịch sử liên quan đến chuyện Hoa Kỳ lấy dầu hỏa thay thế vàng trong định lượng giá trị hàng hóa toàn cầu.

Mối bất hòa của 2 quốc gia đầu têu cộng sản đã âm ỉ từ thập niên 1950s, vì quốc gia nào cũng muốn làm anh cả Đỏ. Điều này trong di chúc của cụ Hồ có đề cập đến, và cụ khuyên, hãy giữ gìn sự đoàn kết trong đảng như giữ gìn con ngươi của chính mình. Và rạn nứt ấy được bùng nổ thực sự vào 8 giờ sáng ngày 13 tháng 8 năm 1969, lực lượng tuần tra biên phòng ở Tân Cương, Trung Hoa gồm 37 người, do 1 sỹ quan là Dương Chính Lâm chỉ huy, bị lực lượng Liên Xô có 6 xe tăng yểm trợ phục kích và hạ sát toàn bộ. Khi Trung Hoa gửi công hàm phản đối, thì bên Liên Xô đáp trả là do biên phòng Trung Hoa xâm phạm lãnh thổ. 

Lừa nước đục thả câu, vào cuối năm 1969, Hoa Kỳ đã đi đêm với A Phú Hãn và Rumania để tiếp cận với Mao Trạch Đông trong chiến lược tiêu diệt Liên Xô cũ, và cũng để thực hiện chiến lược cai quản toàn cầu trong thế kỷ tiếp theo, bằng cách nắm yết hầu dầu hỏa của thế giới. Sau khi hủy bỏ Hiệp ước Bretton Woods tháng 8/1971, thì tháng 12/1972 Richard Nixon gặp Mao, Thông cáo Thượng Hải ra đời. Trong đó, vấn đề Đài Loan, biển Đông và Đông Dương được Hoa Kỳ bàn giao cho Trung Hoa bằng ngoại giao bóng bàn, trở thành vật thế chấp của Trung Hoa và Hoa Kỳ. Để đổi lại, Trung Hoa mở cửa thị trường, đối đầu với Liên Xô. Hoa Kỳ bỏ chiến trường Đông Dương với cái gọi là, ngăn chặn làn sóng cộng sản tràn khắp Á Châu, để chuyển sang Trung Đông để bắt thế giới phải neo giá trị đồng tiền và vàng theo đơn vị mỗi thùng dầu hỏa. Hay nói dễ hiểu là Tiền Dầu Bản Vị.

Kết quả của chiến lược chuyển neo đậu đồng tiền, hàng hóa từ cái mốc là 1 ounce vàng sang 1 thùng dầu hỏa là, Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ; toàn bộ Đông Dương rơi vào tay cộng sản; Trung Đông rơi vào tay Hoa Kỳ; Israel thắng trận ở cuộc chiến với Ai Cập và Syria vào ngày 06/10/1973; Khủng hoảng ngoại giao 52 con tin Hoa Kỳ với Iran năm 1978 làm giá vàng dậy sóng đến 850USD/oz theo giá dầu, vì khủng hoảng an ninh khi vực Vịnh Ba Tư, làm cản trở vận chuyển dầu cung cấp toàn cầu từ cuối năm 1978. Một thời kỳ mới mà Hoa Kỳ đã xác lập tất cả các đồng tiền trên toàn cầu phải bị neo nào giá của mỗi thùng dầu đã hình thành.

Quyền lực của dầu hỏa

Nhưng đến giữa sau thập niên 1980s thì Liên Xô như con rùa lật ngữa - mà dân gian Việt gọi là Nga Ngố. Với tuyên bố của Gorbachev trong cuộc họp ở Berlin của cộng sản toàn cầu là, tùy nghi tự định liệu. Nó làm ta nhớ đến tuyên bố của Cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cách đó 14 năm - tùy nghi di tản - làm VNCH sụp đổ. Cũng với tuyên bố cùng ý nghĩa này từ Gorbachev, Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Hoa Kỳ một mình múa gậy vườn hoang suốt gần 2 thập niên từ 1986 đến 2004! 

Trong khi đó, trước và sau sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, một Đặng Tiểu Bình ở Trung Hoa thấy được sai lầm của cú ngoại giao bóng bàn từ 2 thập niên trước. Và qua sự kiện ngày 04/6/1989 Thiên An Môn đẫm máu, Đặng đã đưa ra sách lược, Mèo trắng, mèo đen, mèo nào bắt được chuột là chơi. Nó biến Trung Hoa thành nơi bán tài nguyên và môi trường để làm công xưởng của thế giới bằng lao động giá rẻ. Nó cướp việc làm của toàn cầu, và đồng lõa với các đại tư bản toàn cầu để bóc lột chính nhân dân Trung Hoa, nhằm ẩn mình chờ thời cho con Rồng Trung Hoa thức giấc.

Trạng chết thì trẫm cũng thương vong. Liên Xô sụp đổ là thắng lợi của phe Tư bản, đứng đầu là Hoa Kỳ, nhưng qua đó, những cuộc chạy đua vũ trang đã để lại khối nợ khổng lồ cho chính phủ Hoa Kỳ, đặc biệt đối với các đời Tổng thống thuộc đảng Cộng Hòa từ 1980 đến 1988 của ông Ronald Reagan đã đẩy nợ công từ 907 tỷ lên hơn 2 lần là 2602 tỷ đô la. Rồi đến 1 nhiệm kỳ của ông Bush cha từ 1989 đến 1992 đã đẩy nợ công từ 2602 tỷ lên gần gấp đôi là 4064 tỷ đô la. Cả 2 nhiệm kỳ Tổng thống thuộc Dân chủ do Bill Clinton nắm từ 1993 đến 2000 nợ công tăng thêm từ 4064 tỷ lên 5674 tỷ, chỉ tăng thêm 1100 tỷ đô la trong 8 năm, thấp nhất trong 34 năm qua. Vì cũng 8 năm nắm quyền nước Mỹ, nhưng ông Bush con đã đẩy nợ công nước Mỹ từ 5674 tỷ lên đến 10.024 tỷ đô la, tăng thêm 4350 tỷ đô la.

Obama bước vào Nhà Trắng với núi nợ lên đến 10.024 tỷ đô la, và kinh tế Hoa Kỳ đang suy trầm. Hàng loạt vấn đề cần giải quyết sau đống đổ nát của chấm dứt chiến tranh lạnh, và chạy đua vũ trang, cũng như cuộc chạy đua trong chiến tranh tiền tệ. Việc đầu tiên là Obama tuyên bố khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ sau khi Lehman Brothers sụp đổ lúc ông Bush con còn tại vị, và tái cơ cấu những trụ cột tài chính Hoa Kỳ gồm Bank of America, và cả City Group, nên phải vay của Trung Hoa 800 tỷ đô la. Sau đó là, những gói kích thích kinh tế với cái gọi là nới lỏng tín dụng - QE: Quantitative Easing - để phá giá đồng đô la Mỹ, làm giá dầu tăng cao, và giá vàng cũng tác nước theo mưa lên những kỷ lục mới cho giá dầu là 120USD/thùng và giá vàng 1.900USD/oz. Hết nhiệm kỳ đầu của Obama, đến 2012 nợ công Hoa Kỳ đã đến con số 16.066 tỷ đô la, gần như tương đương 100% GDP Hoa Kỳ của năm 2012 là 16.240 tỷ.

Còn nếu ai quan tâm nợ công Hoa Kỳ, chịu khó vào cái đồng hồ báo nợ của nước Mỹ nó nhảy sẽ chóng mặt và khó thở: US Debt Clock. Cho đến thời điểm tôi viết bài này đồng hồ nợ công Hoa Kỳ đã nhảy đến con số 17.272 tỷ đô la! Vì thế cho nên cuối năm 2013, chính phủ Hoa Kỳ phải đóng cửa 2 tuần, vì quốc hội không thông qua ngân sách tài khóa cho năm 2014. Nhưng đó chỉ là thủ thuật chính trị của một thể chế chính tri đa nguyên và tản quyền tốt nhất hiện nay của xã hội loài người - nghệ thuật của sự có thể.

Không say với men chiến thắng, yếu tố Thiên Địa, Nhân của Hoa Kỳ vẫn được miệt mài xây đắp dưới nghệ thuật của sự có thể - chính trị hùng cường. Trung Hoa cứ nghĩ mình đủ sức để vẫy đuôi rồng xuống Biển Đông, và vươn vuốt rồng khắp nơi, khi họ đạt được vị trí siêu cường thứ 2 về kinh tế thế giới vào năm 2010. Nhưng Trung Hoa không hiểu rằng từ 2004, Hoa Kỳ đã tiên liệu, và sử dụng sức mạnh của dầu hỏa là cái mốc giá trị mọi hàng hóa cho toàn cầu. Hoa Kỳ bắt đầu tạo ra chiến tranh tiền tệ, giá dầu tăng, thì giá vàng phải tăng theo. Ai sử dụng dầu nhiều nhất thế giới, kẻ ấy thua thiệt; Ai cần dự trữ vàng để chống các con kền kền gây lũng đoạn kinh tế các quốc gia như George Soros, thì mua vàng dự trữ, kẻ ấy thua thiệt. Những kẻ ấy là Trung Hoa, Ấn Độ, và Việt Nam, v.v...

Cũng giống như xưa với Đức và Nhật, Hoa Kỳ cũng yêu cầu Trung Hoa nâng đồng Yuan lên, nhưng Trung Hoa từ chối. Mày từ chối thì tao phá giá đồng tiền của tao. Và từ đó chiến tranh tiền tệ khốc liệt nhất diễn ra, giá dầu, giá vàng nhảy múa rối tung, cả thế giới đảo điên sau mỗi lần họp của Fed - Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ. Một mình Nga Ngố hưởng oản để phục sinh, và gây khó dễ.

Trong năm 2013, NHNN Việt Nam bán đấu giá vàng 70 đợt, không biết vàng bán ra từ đâu? Vàng tín phiếu thì tốt, xem như NHNN Việt Nam in giấy lộn làm tín chỉ vàng bán cho các tổ chức tài chính để mua trích quỹ dự phòng nợ xấu, và NHNN Việt Nam có được hơn 6.000 tỷ đồng lãi nộp ngân sách hoạt động cho chính phủ trong lúc kinh tế đang suy sụp. Nhưng nếu vàng đó là vàng mua thật để bán cho các tổ chức tài chính thì đó là cách làm của con rắn tự ăn cái đuôi của mình. Vì vàng mua từ lúc giá vàng 1.500USD/oz, nhưng tới hôm nay vàng chỉ còn 1.200USD/oz, xem như ngân quỹ quốc gia mất đi hàng trăm triệu đô la, vì lỗ cứ mỗi ounce vàng đến 300USD!

Cuộc chiến tranh tiền tệ giữa Trung Hoa và Hoa Kỳ, nếu nghiên cứu kỹ, nó diễn ra từ 2004 đến 2011, khi giá dầu tăng từ 25USD/thùng lên đến đỉnh là 120USD/thùng, sau đó hạ nhiệt, và giá vàng cũng tăng, hạ theo. Và cái mốc mà Hoa Kỳ quyết định hạ nhiệt chiến tranh tiền tệ sau khi họ quét dọn Trung Đông - Bắc Phi. bằng cách mạng Hoa Nhài, và bắt đầu hoàn thành công nghệ sản xuất dầu từ đá phiến sét để độc lập với sự neo đậu đồng đô la vào dầu hỏa. Một chiến lược mới bao vậy Trung Hoa bằng ngoại giao bóng rổ, qua xoay trục từ Trung Đông trở lại Thái Bình Dương được khởi động từ 2006, đồng thời gầy dựng Chiến lược đối tác kinh tế xuyên Đại Tây Dương từ tháng 10/2013. Cùng lúc đó, Trung Hoa bắt đầu khủng hoảng tài chính trong nước do nợ công của chính quyền địa phương chạy đua tăng trưởng để có tiền tham nhũng mua chức, mua quyền ở Trung ương trong đại hội đảng cộng sản Trung Hoa lần thứ 18 vừa qua. Cũng là lúc Hoa Kỳ tỉnh lại sau tăng trưởng bất ngờ đến 4.1% của con số 16.240 tỷ trong năm 2012, mà trước đó chỉ dự đoán có 3.6%.

Kết cho tương lai

Cho đến nay, mọi quyền lực xoay quanh giá dầu, vì thế giới vẫn chưa có những kỹ thuật tối tân, giản tiện để tận dụng nguồn năng lượng vô tận của thiên nhiên: năng lượng từ gió, và mặt trời. Trong khi đó, theo báo cáo mới nhất là đến 2015, Hoa Kỳ sẽ là nước sản xuất dầu hỏa số 1 toàn cầu, nhờ vào việc vắt đá thành dầu, soán ngôi vị của Trung Đông về khoản này. Cho nên chúng ta không lạ là tại sao Hoa Kỳ quậy cho cách mạng Hoa Nhài và chuyển trục trở lại Thái Bình Dương từ Trung Đông. Và chúng ta cũng không rõ cuộc hội ngộ Nixon-Mao 2.0, mà ở đó, Obama và Tập đã bàn định những gì trong cuộc thế chấp mua bán khu vực Thái Bình Dương trong tương lai.

Mưa, gió, bão táp, phong ba sẽ đổ vào đâu khi Hoa Kỳ muốn, khi họ đã độc lập nguồn năng lượng chủ chốt này - dầu hỏa. Và chắc chắn một điều quan trọng là, Hoa Kỳ là tay tổ chức sòng bài thu tiền xôi, trong khi đó các con bạc khát nước đang cật lực đánh bạc cả ngày lẫn đêm mất tiền, tốn sức, mà cứ ngỡ mình hay.

Dầu sẽ lên, và sẽ xuống, nhưng xu thế xuống và đứng giá trong ít nhất 1/4 thế kỷ tới, với những gì công bố mới đây về an ninh năng lượng độc lập của Hoa Kỳ. Nhưng cũng vì nó mà những đợt sóng tăng hạ giá từ ông chủ thế giới Hoa Kỳ ban phát sẽ làm cả thế giới say sóng, nôn mửa, và có thể đi vào hôn mê, nếu ông chủ muốn cho thêm liều thuốc gây ói cho đến kiệt sức.

Cho đến khi nào thế giới chưa đủ sức làm ra công nghệ để tận dụng 2 nguồn năng lượng vô tận: gió và mặt trời, thì Hoa Kỳ vẫn dùng sức mạnh của dầu hỏa, đồng đô la, và vàng - mà chủ chốt là dầu hỏa làm tâm để điều khiển toàn cầu theo chiến lược của họ đã vạch ra.

Asia Clinic, 17h08' ngày thứ Năm, 02/01/2014

Với phương Tây, nền văn hóa duy lý và thực dụng, họ không cho là có sự vĩnh hằng. Đến và đi ở cõi đời trần tục này chỉ một lần, rồi chẳng còn chi để lại, ngoại trừ tiếng tăm và dấu tích đóng góp tốt xấu cho đời. Nên người phương Tây chỉ dồn toàn bộ sức lực cho lúc còn sống vì mọi việc, và lý thuyết tư tưởng có tính hiệu quả cao của phương Tây ra đời, nhờ đó đã đưa nhân loại tiến rất nhanh chỉ trong vòng vài thế kỷ qua về mọi mặt. Từ  năm 1672 ông Otto Fon Gerryk tìm ra điện đến nay chưa đầy 500 năm so với hàng chục triệu năm loài người có mặt trên hành tinh xanh, mà hôm nay chúng ta đã ngồi một chỗ có thể liên lạc toàn cầu, và ai cũng có thể sử dụng sức mạnh của riêng mình để phục vụ cho kiếp nhân sinh. Đó là những bước tiến vĩ đại của chúng ta.

Ngược lại, với phương Đông, nền văn hóa duy tình và có tính huyền hoặc. Họ không tư duy cho sự phồn thịnh thực tại bằng vật chất, mà họ gọi là "tầm thường", mà họ lại dành thời gian sống để nghĩ về sự vĩnh hằng, sau khi cuộc sống đầy khổ nhục ở trần gian làm họ chán chường. Cho nên, 3 tôn giáo lớn nhất mọi thời đại loài người là Phật giáo, Ki Tô giáo và Hồi giáo đều xuất hiện ở phương Đông. Nếu Phật giáo có giáo lý như triết học cao sang, thì Ki Tô giáo có một giáo lý gần gũi với con người bình dị hơn, đến Hồi giáo cũng thế, trần tục hơn. Các tôn giáo lớn khác góp phần không nhỏ cho đời sống tâm linh và tư tưởng của nhân loại nói chung, và phương Đông nói riêng, nhưng tất cả đều mang màu sắc cho sự đi về và chốn vĩnh hằng.

Bây giờ nói chuyện vĩnh hằng và bất tử, vì cái đáng sợ nhất của con người là không bao giờ tự giải thoát được cái sợ, do còn ở cõi u mê chưa tự biết mình là ai? Khi biết ta là ai, ta từ đâu đến, và ta đến để làm gì, lúc đó cái sợ không còn là vấn đề phải quan tâm, mà ta chỉ thực hiện việc ta làm - ta gieo nhân và sẵn sàng đón nhận quả!

Nhiều người chưa hiểu thế nào là sự bất tử và chốn vĩnh hằng ở phạm vi tâm linh, nên còn chưa hiểu mình. Khi chưa hiểu mình thì chưa giải thoát cái sợ. Cái sợ là cội nguồn của mọi hành động bất minh. Sợ mất của cải của tôi, sợ mất gia đình tôi, sợ vợ/chồng/con cái tôi, v.v... sẽ thua thiệt, đói nghèo... Vào internet lập một nickname, tôi sợ lộ thông tin cá nhân, tôi đặt một nặc danh cho ăn chắc. Ra ngoài đường tôi sợ bị kẻ gian hãm hại, v.v... trăm ngàn nỗi sợ. Từ đó, hành vi và tư duy sẽ bất minh, nó dẫn đến những sai lầm, và giảm đi sức mạnh tự thân đối với cộng đồng, và giảm đi sức mạnh đoàn kết của cộng đồng trước uy lực của kẻ gian manh.

Có những người nỗi sợ đến mắc bệnh tâm thần hoang tưởng bị hại, nhưng cứ nghĩ mình khôn. Đó là bi kịch của nguồn cội của sự bất minh. Và các chính khách gian manh trên thế giới luôn biết lợi dụng sự bất minh ấy để tạo ra những chế độ độc tài, hòng cai quản những kẻ bất minh, để ăn trên ngồi trốc, hưởng vinh hoa phú quý bằng những luật lệ gian manh. Thế giới hôm nay tuy đã phát triển vượt bậc, nhiều phương tiện thông tin đã giúp sức mạnh cá nhân của mỗi thành viên trên thế giới phát huy hết sức mạnh của mình, nhưng cũng không thiếu kẻ bất minh làm loài cừu dễ dạy.

Khi sự bất minh ngự trị trong mỗi con người, nó làm con người chỉ như con ốc co mình vào vỏ để chăm lo bộ dạng của mình. Con ốc đó chỉ chịu xông ra tự bảo vệ mình khi quyền lợi mình bị xâm hại vì kẻ khác. Đó là căn nguyên của mọi sự chia rẻ, và yếu hèn. Các chính khách gian manh biết nắm bắt yếu điểm này của đám đông ngu muội để đưa ra những chiêu trò tâm lý đánh vào cái vô thức của đám đông mê muội, hòng cai trị, và hưởng phú quý vinh hoa trên xương máu của đồng loại, và đồng bào.

Sáng nay nói chuyện với anh bạn già về sự bất tử. Chúng tôi bắt đầu bằng nghiệp dĩ một con người, rồi lan man đến một dân tộc. Cả hai cùng nhắc đến một vấn đề lớn mà con người chỉ khi đi hết cái dốc cuộc đời mới sực tỉnh: "Đến và đi ở cõi đời này là để hoàn thiện mình. Kẻ thiếu ác thì hoàn thiện cái ác. Người thiếu thiện thì hoàn thiện cái thiện, v.v... Tất cả đều là để qua đó, giải quyết ân oán cuộc đời mà nhân quả đã gieo. Quả thì đã có rồi, chỉ có gặt, không thể thay đổi được. Nhân thì ta có thể chủ động gieo, ai cũng làm được, tùy theo trí huệ của mỗi người. Để cuối cùng ta có thể quay lại hay ra đi làm sứ giả trong tương lai. Đó là sự vĩnh hằng." 

Đó là đỉnh cao của tư duy tâm linh phương Đông mà Phật học đã mang đến cho con người, mặc dù đây là con đường đi đến sự vĩnh hằng sớm nhất của loài người. Bây giờ chúng ta hãy cỡi trói những khúc mắc này bằng thực tế khách quan sinh động hôm nay.

Dù phương Tây có tự hào tìm ra nền kinh tế tri thức qua phát triển công nghệ thông tin phần mềm, thì họ vẫn phải bắt đầu từ nền tảng triết lý phương Đông với, Nhất thể sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, và Hà đồ lạc thư 64, 128 quẻ của dịch, của Phật học. Thay vì có không trong Phật học, thì mã hóa các thuật toán tin học lại bắt đầu bằng 2 chữ số 1 và 0, với đơn vị byte cũng phải đi theo những con số 2, 4, 8, 64, 128bytes,...

Tại sao có một Steve Jobs không cần học nhiều tạo ra quả táo cắn dỡ, rồi lại ra đi? Tại sao có một Bill Gates cũng bỏ dỡ việc học hành, nhưng tạo ra hệ điều hành Window mở cửa sổ sức mạnh cho toàn cầu, rồi quay lại làm việc thiện cho nhân loại cùng khổ? Tại sao có một Nelson Mandela chịu bao cực hình tù tội, để rồi trở thành người khai sáng cho cả một quốc gia Nam Phi chìm đắm trong nhục dục của loài người? Tôi xin ứng cử 3 nhân vật này để thấy 3 mức độ vĩ đại và có tính sứ giả đem đến cái thiện cho nhân loại khổ đau, mà không muốn đưa ra những nhân vật mang đến đầu rơi máu đổ, đẩy dân tộc chìm đắm trong mê muội và khổ nhục như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, v.v... Vì cái thiện sẽ luôn thắng ác, dù cái thiện luôn mất thời gian công sức để thắng, và để làm loài người ra khỏi u mê cam go hơn cái ác.

Với Steve Jobs, Bill Gates và Nelson Mandela, v.v... họ đã học hết túi khôn và gian manh của loài người tự bao giờ mà ngay chính họ cũng không biết được. Giờ họ quay lại để làm sứ giả cho việc thiện. Nhưng ở mỗi người có một đẳng cấp khác nhau, nên họ chỉ làm một nhiệm vụ khác nhau. Xong nhiệm vụ là phải ra đi.

Nếu Steve Jobs chỉ cần làm ra quả táo cắn dỡ để làm nên sự vĩnh hằng và bất tử, thì Bill Gates sau khi làm nên vĩnh hằng và bất tử, anh ta còn phải lo toan cho nhân loại cùng khổ được ấm êm hơn, xong nhiệm vụ này anh cũng phải ra đi. Hơn một bậc nữa, Nelson Mandela đến với đời là lấy thân xác này hy sinh như những Ngài Thích Ca, Jesus, v.v... để hành xác trong 27 năm tù tội, rồi sau đó lấy đức hy sinh, lòng vị tha và túi khôn của loài người để cảm hóa những con thú mang mặt nạ người ở Nam Phi để dạy cho nhân loại rằng, chúng ta đến với cuộc đời này bằng nhau về màu da, sắc tộc, phải cư xử nnhau đúng nghĩa là Người, chứ không phải là thú hoang dã. Xong nhiệm vụ thì ông cũng phải ra đi. Tất cả họ là những sứ giả. Họ không thua bất kỳ Albert Einstein hay bất kỳ nhà khoa học để lại cho đời những khám phá thiên nhiên, xã hội để đưa loài người tốt đẹp hơn.

Ngược lại, những sứ giả ác mang đến khổ đau cho nhân loại như Hitler, Lenin, Mao, ... họ cũng là sứ giả có nhiệm vụ đến với đời dạy cho nhân loại những điều ác, gian manh, mà nơi họ đến, những dân tộc đó đang cần nhận quả đắng mà họ đã gieo tự bao giờ mà họ không biết. Tại sao ngày 30/4/1975 có bao người ra đi, nhưng có bao người đã lên thuyền phải quay trở lại ở Việt Nam? Tại sao có bao người sau đó vượt biển ra đi, nhưng chỉ có phân nửa được đến nơi họ cần đến, còn lại làm mồi cho cá, cướp biển? Tại sao có những người ở lại bị tù đày, có người ở lại lại lên cao. Và tại sao những người ở lại đó, có người muốn ra đi, có người vẫn cứ ở lại để sống nhìn đời, mặc dù ở lại trong khốn khổ? v.v... rất nhiều câu hỏi tại sao nghịch lý và logic rất khó trả lời.

Rồi tại sao có những quốc gia đi theo con đường đa nguyên tản quyền, mà hễ đã là lãnh đạo thì phải là có học, phải tranh cử, phải giải trình dự án của mình trước đảng đại diện tranh cử trước khi được đảng chọn lựa ứng cử viên như Hoa Kỳ? Và cũng tại sao có những quốc gia đơn nguyên tập quyền, mà khi chọn lựa lãnh đạo không cần có học, chỉ cần trung thành với đảng cầm quyền như ở Việt Nam? Rồi tại sao đến ngày nay hình thức cha truyền con nối để làm vua vẫn còn như ở các quốc gia cộng sản?

Tất cả là nhân với quả, và ân oán của ta mà ta phải giải quyết. Đừng buồn, đừng giận, hoặc đừng căm thù ai đó đã hãm hại ta, mà hãy bình thản đón nhận như quả đắng ta phải lãnh vì ta đã gieo nhân tự bao giờ. Cũng đừng quá phấn khích, tư kiêu khi ta may mắn được đời nhiều ưu ái.

Suy cho cùng, tất cả những gì ta gặp, ta hái gặt hôm nay là ân oán của hôm qua. Cha/Con/Chồng/Vợ chẳng phải của ta, và chẳng bà con chi, mà là ân oán cuộc đời mà ta phải đeo mang, và giải quyết. Trên nền tảng gia đình đó, có người làm việc nhỏ, có người phải gánh việc lớn, có người làm việc thiện, có kẻ gieo tai ương khốn khổ. Đó là bản chất của xã hội loài người, vừa hoang dã, vừa thánh thiện. Không ai nên trách ai, mà chỉ trách mình chưa được minh mẫn để nhìn cuộc đời, nhân quả, trả vay đúng với bản chất của nó.

Khi đã nhận chân được bản chất của cuộc đời, ấy là lúc ta không còn bất minh, ta lại là ta, an nhiên tự tại làm việc ta phải làm, dù chó có sủa, mèo có ngao, hay gươm kề cổ, súng kề tai. Đó là bất tử và vĩnh hằng, dù cái bất tử và vĩnh hằng ấy có là giam mình trong phòng thí nghiệm để tìm tòi cái còn bí ẩn của thiên nhiên chưa ai khai phá, hay là sự giam cầm trong tù tội để khai sáng cho một dân tộc.

Năm con Rắn 2013 quả là một năm khốc liệt về mọi mặt ở nước Việt như tôi đã tiên liệu từ 2 năm trước. Năm con Ngựa 2014 còn khốc liệt hơn nhiều, nhưng cũng xin chúc dân tộc Việt sáng suốt và biết chọn lựa con đường đi của mình.

Asia Clinic, 15h38' Ngày cuối năm Tây lịch thứ Ba, 31/12/2013